Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH THẠNH

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10/9/2024

V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hà Thía;

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Sậm;
  2. Bà Đoàn Sơn Lâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Lễ - Kiểm sát viên sơ cấp – Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 147/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 (có mặt).

Bị đơn: Nguyễn D, sinh năm 1982 (vắng mặt lần 2).

Người có quyền, lợi ích được bảo vệ: Nguyễn Nữ Thảo N, sinh ngày 28/01/2009; Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 29/7/2012 và Nguyễn Nữ Lan A, sinh ngày 31/01/2015 (vắng mặt lần 2).

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày như sau: Hôn nhân của bà và ông Nguyễn D đến với nhau là do tự quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 03 tháng thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức lễ cưới năm 2009, có đăng ký kết hôn ngày 27/6/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.

Bà và ông D chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì ông D đi làm xa thay đổi tính tình, có quan hệ tình cảm với người khác, bà đã khuyên nhiều lần nhưng ông D vẫn không thay đổi. Bà và ông D sống ly thân từ ngày 20/7/2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai chủ động hàn gắn tình cảm. Nay bà T không còn tình cảm với ông D nên bà xin ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông D có 03 con chung tên Nguyễn Nữ Thảo N, sinh ngày 28/01/2009; Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 29/7/2012 và Nguyễn Nữ Lan A, sinh ngày 31/01/2015. Khi ly hôn bà xin tiếp tục nuôi cháu Lan A, cháu N và T1 bà đồng ý để ông D tiếp tục nuôi. Tại phiên tòa bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T1 là 1.170.000 đồng/tháng, tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn D và người có quyền lợi ích được bảo vệ cháu Nguyễn Nữ Thảo N và Nguyễn Hoàng Anh T1 mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không chấp hành giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; đồng thời vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.

Người có quyền, lợi ích được bảo vệ cháu Lan A trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Cháu là con chung của ông Nguyễn D và bà Nguyễn Thị T. Cháu đang học lớp 3 và sống chung với nguyên đơn. Nếu nguyên đơn, bị đơn ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống chung với nguyên đơn, không yêu cầu gì đối với bị đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và các đương sự đều chấp hành tốt quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn với ông D. Về con, giao cháu Nguyễn Nữ Lan A, sinh ngày 31/01/2015 cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Nữ Thảo N, sinh ngày 28/01/2009; Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 29/7/2012 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, công nhận nguyên đơn tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T1 là 1.170.000 đồng/tháng, tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông D có đăng ký thường trú tại ấp E, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi ích được bảo vệ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định pháp luật.

[2] Về hôn nhân của nguyên đơn, bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn của ông, bà yếu là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong xây dựng gia đình, trong thời gian ly thân nguyên đơn, bị đơn cũng không hàn gắn được tình cảm, mâu thuẫn trầm trọng thêm; Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn không đến Tòa án cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho thấy bị đơn không muốn hàn gắn tình cảm với nguyên đơn, hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng; điều này cũng phù hợp với biên bản xác minh Tòa án lập ngày 09/7/2024. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông D.

[3] Về con: Nguyên đơn, bị đơn có 03 con chung là Nguyễn Nữ Thảo N, sinh ngày 28/01/2009; Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 29/7/2012 và Nguyễn Nữ Lan A, sinh ngày 31/01/2015. Từ khi ly thân cháu Lan A sống với nguyên đơn; cháu N và T1 sống với bị đơn. Nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của con trẻ Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Lan A cho bà T trực tiếp nuôi; giao cháu N và T1 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T1 là 1.170.000 đồng/tháng, tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung riêng và nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đối với bị đơn nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[6] Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất về nội dung giải quyết trong vụ án là có cơ sở.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều: 4, 5, 6, 28, 40, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn D.

Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Nữ Thảo N, sinh ngày 28/01/2009; Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 29/7/2012 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Nữ Lan A, sinh ngày 31/01/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận bà T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T1 là 1.170.000₫ (Một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng)/tháng, tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho các đương sự, không ai được cản trở ông D, bà T thực hiện quyền này. Vì lợi ích con chung, nguyên, bị đơn có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Không xem xét giải quyết.

(Nếu sau này phát sinh tranh chấp bị đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác).

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0006961 ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Bà T phải nộp thêm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng theo quy định.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án, riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Cần Thơ;
  • - VKS huyện Vĩnh Thạnh;
  • - Chi THA dân sự huyện Vĩnh Thạnh;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Hà Thía

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về xin ly hôn

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn D. Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Nữ Thảo N, sinh ngày 28/01/2009; Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 29/7/2012 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Nữ Lan A, sinh ngày 31/01/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận bà T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T1 là 1.170.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng)/tháng, tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho các đương sự, không ai được cản trở ông D, bà T thực hiện quyền này. Vì lợi ích con chung, nguyên, bị đơn có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ: Không xem xét giải quyết. (Nếu sau này phát sinh tranh chấp bị đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác). Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0006961 ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Bà T phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng theo quy định.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger