|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 68/HSST Ngày 10/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương, bà Phan Thị Hà Giang.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Anh. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024. Tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/HSST, ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS, ngày 27/8/2024, đối với các bị cáo:
- Bị cáo: Nguyễn Hữu H, sinh ngày 03/02/1969. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Hữu N, sinh năm 1954 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1997; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo: Phạm Viết K, sinh ngày 21/10/2003. Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Phạm Viết L, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; Vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo: Phan Huy S, sinh ngày 01/01/2006. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Phan Huy H3, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị H4, sinh năm 1983; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo: Nguyễn Đình T1, sinh ngày 17/5/1990. Nơi cư trú: Khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Quang T2, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1953; vợ: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/11/2012, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, xử phạt 04 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng (đã chấp hành án xong).
- Bị cáo: Lê Văn C, sinh ngày 03/10/1993. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Lê Văn S1, sinh năm 1961 và bà Trần Thị M, sinh năm 1963; vợ: Lưu Thị N1, sinh năm 1993; con: Có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2018 bị Công an phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong). Năm 2020 bị Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong).
- Bị cáo: Nguyễn Như N2, sinh ngày 21/7/1989. Nơi cư trú: Khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Như D, sinh năm 1950 và bà Trần Thị N3, sinh năm 1945; vợ: Nguyễn Thị H5, sinh năm 1991; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024, có mặt tại phiên toà.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024, có mặt tại phiên toà.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024, có mặt tại phiên toà.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024, có mặt tại phiên toà.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau: Sáng ngày 20/6/2024, Phan Huy S, Lê Văn C, Phạm Viết K và Nguyễn Hữu H đi đến quan bi-a “KAKA” của Nguyễn Như N2 ở Khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An để chơi. C, K, H cùng chơi bi-a một bàn, còn S chơi ở bàn bên cạnh. Khi chuẩn bị nghỉ đánh bi-a, Nguyễn Hữu H, Lê Văn C và Phạm Viết K cùng nói “Tý nghỉ ta có làm tý hiệp phụ không” (Ý là rủ nhau sau khi nghỉ bi-a sẽ đánh bạc). C, K hiểu cùng H, đồng ý đánh bạc. Đến khoảng 12h 30phút cùng ngày, Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K và Phan Huy S cùng nghỉ chơi bi-a, gọi mua cơm đưa đến quán để ăn trưa. Trong khi ngồi ăn trưa ở quán B, Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K tiếp tục bàn việc đánh bạc, Phan Huy S nghe được đến xin chơi cùng. Cả nhóm thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng". Nguyễn Như N2 chủ quán bi-a có mặt tại đó, biết được các đối tượng có ý định đánh bạc tại quán của mình nên nói “Bay có chơi thì vào phòng ngủ mà chơi, đừng có chơi ngoài ni”(Ý nói vào phòng ngủ để chơi, đừng chơi ngoài quán). Khi vào phòng ngủ, các đối tượng sử dụng bộ bài Tú lơ khơ đã có sẵn trong phòng trước đó để đánh bạc.
Các đối tượng quy định cách thức chơi như sau: Đặt tẩy 50.000 đồng, được phạt (hay còn gọi là “tố”) tối đa không quá 3 vòng, mỗi vòng không quá 500.000 đồng. Mỗi người tham gia đánh bạc đặt 50.000 đồng gọi là tiền tẩy, tiếp đó dùng bộ bài T3 lơ khơ chia cho mỗi người tham gia đánh bạc 3 quân bài, số quân bài còn lại để ở giữa không sử dụng. Sau khi chia bài xong, từng người lên bài và đặt tẩy. Vòng một: Người nào chia bài thì người đó đánh trước (gọi là tay trên) và quy định đánh từ trái qua phải, đánh 50.000 đồng nếu người kế tiếp tham gia đánh thì đánh 50.000 đồng và được quyền phạt và cứ thứ tự như vậy cho đến người cuối cùng. Sau khi người cuối cùng tham gia đánh và phạt, nếu tất cả thống nhất dừng lại thì lật bài để phân định thắng, thua. Nếu có người không thống nhất dừng lại mà phạt tiếp thì chuyển sang vòng hai. Vòng 2: Sau khi người cuối cùng tham gia phạt ở vòng thứ nhất phạt xong thì quay lại như vòng thứ nhất. Từng ván bài được tính bài, tính điểm thắng thua như sau: Cao nhất là "sáp" tức là 3 quân bài trùng nhau, "sáp" 3 quân át (A) cao nhất, tiếp đến "sáp" K, thấp nhất "sáp" 2. Nếu không ai có "sáp" thì tính đến "Liêng" tức là 3 quân bài liên tiếp nhau, liêng cao nhất là Q,K,A; thấp nhất là A, 2, 3. Nếu không người nào có " Liêng" thì tính đến "ảnh" (tức quân J,Q,K), ảnh cao nhất là ảnh có quân K. Nếu không có" ảnh" thì lúc đó tính điểm cao nhất là 9, thấp nhất là 0. Điểm được tính như sau: Các quân bài 10, J, Q, K được tính là 0, các quân bài từ A đến 9 (quân bài A tính 1 điểm) và các quân bài khác tương đương với số ghi trên quân bài, sau khi cộng điểm chỉ lấy số hàng đơn vị để tính. Khi bài người chơi bằng điểm nhau, thì bài đó được so sánh với nhau theo thứ tự chất “ rô, cơ, chuồn, bích”. Quá trình đánh " Liêng" khi một người không có" sáp" hoặc không có" Liêng", không có" ảnh", có thể 9 điểm hoặc không có điểm người đó vẫn được quyền phạt, khi có người phạt những người tham gia đánh không theo số tiền phạt thì người phạt tuy điểm thấp vẫn thắng cược.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Nguyễn Đình T1 đi đến quán để chơi bi-a, thấy mọi người đang đánh bạc nên vào tham gia cùng. Lê Văn C thua hết tiền nên nghỉ trước ra về, bốn người còn lại vẫn tiếp tục chơi. Vào khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác của Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tại khu vực thị trấn T, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, đã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại vị trí đánh bạc một bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 quân, 8.000.000 đồng và số tiền trong người các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Cơ quan Điều tra Công an huyện T đã lập biên bản và tạm giữ các đối tượng, tiến hành điều tra làm rõ để xử lý. Số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau: Phan Huy S sử dụng 5.800.000 đồng, Phạm Viết K sử dụng 4.000.000 đồng, Nguyễn Đình T1 sử dụng 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H sử dụng 3.000.000 đồng và Lê Văn C sử dụng 2.000.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.800.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 62 ngày 14/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; đã truy tố Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K, Nguyễn Đình T1, Phan Huy S và Nguyễn Như N2, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Văn C từ 06 – 09 tháng tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Đình T1, từ 07 – 10 tháng tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lê Văn C, do có thu nhập không ổn định; khấu trừ thu nhập đối với Nguyễn Đình T1, mỗi tháng từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Hữu H từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Xử phạt Phan Huy S và Phạm Viết K mỗi bị cáo từ 24.000.000 đồng đến 28.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Như N2, mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Áp dụng Điều 106; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo đã dùng đánh bạc là: 18.800.000 đồng; các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K, Nguyễn Đình T1, Phan Huy S và Nguyễn Như N2, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng đã thu được; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản bản bắt người phạm tội quả tang.
Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 17 giờ ngày 20/6/2024, Tổ công tác của Công an huyện T đã phát hiện bắt quả tang các đối tượng Nguyễn Hữu H, Phạm Viết K, Nguyễn Đình T1 và Phan Huy S đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh "Liêng" tại phòng ngủ quán bi-a của Nguyễn Như N2 ở Khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Cơ quan Điều tra đã thu giữ một bộ bài Tu lơ khơ gồm 52 quân và 8.000.000 đồng. Lê Văn C tham gia đánh nhưng thua hết tiền nghỉ về trước. Số tiền các bị can đã sử dụng để đánh bạc là: Phan Huy S sử dụng 5.800.000 đồng, Phạm Viết K sử dụng 4.000.000 đồng, Nguyễn Đình T1 sử dụng 4.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H sử dụng 3.000.000 đồng và Lê Văn C sử dụng 2.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.800.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm nghìn đồng).
Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K, Nguyễn Đình T1, Phan Huy S và Nguyễn Như N2, phạm tội "Đánh bạc”, như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hội; hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về lĩnh vực trò chơi có thưởng. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và lên cho các bị cáo một mức án cụ thể, căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải hành vi phạm tội ( điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ). Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K, Phan Huy S và Nguyễn Như N2, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tội ( điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ).
Phan Huy S có ông nội là người có công đã được tặng thưởng Kỷ niệm chương; Nguyễn Đình T1 có ông ngoại là người có công đã được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Nguyễn Như N2 có ông ngoại là người có công đã được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và Huy chương của Nhà nước Lào. Đây là tình giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy Nguyễn Đình T1 và Lê Văn C (đang bị bệnh hiểm nghèo) có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, cho nên không cần thiết phải cách ly ra ngoài xã hội bằng hình phạt tù; mà cho hai bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, cũng đủ sức giáo dục răn đe các bị cáo. Do Lê Văn C có thu nhập không ổn định và đang bị bệnh hiểm nghèo, nên miễn việc khu trừ thu nhập cho bị còn; còn Nguyễn Đình T1 có thu nhập ổn định, nên cần khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo từ 05% đến 08 % tháng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với các bị cáo Nguyễn Hữu H, Phan Huy S, Phạm Viết K và Nguyễn Như N2; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu cho nên không cần thiết phải cách ly ra ngoài xã hội; mà áp dụng hình phạt chính bằng tiền để sung ngân sách Nhà nước, nhằm tước đi một phần thu nhập của các bị cáo, cũng đủ sức giáo dục răn đe các bị cáo.
[4] Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ tang vật: Số tiền 18.800.000 đồng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ.
Xét thấy số tiền các đối tượng đã dùng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với bộ các bộ bài tu lơ khơ, mà các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc; cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, đối với Lê Văn C. Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, đối với Nguyễn Đình T1. Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, đối với Nguyễn Hữu H và Phạm Viết K. Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, đối với Phan Huy S và Nguyễn Như N2. Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K, Nguyễn Đình T1, Phan Huy S và Nguyễn Như N2, phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt các bị cáo:
- Xử phạt: Lê Văn C, 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ
- Xử phạt: Nguyễn Đình T1, 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ
- Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại của các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Lê Văn C, được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Giao bị cáo Nguyễn Đình T1 cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Văn C.
Bị cáo được trừ 09 ngày cải tạo không giam giữ, tương ứng với ngày tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024.
Bị cáo được trừ 09 ngày cải tạo không giam giữ, tương ứng với ngày tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2024.
Giao bị cáo Lê Văn C cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Đình T1 mỗi tháng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) trong thời gian cải tạo không giam giữ; để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt các bị cáo:
- Xử phạt: Nguyễn Hữu H, số tiền: 27.000.000 đồng (Hai bảy triệu đồng).
- Xử phạt: Phan Huy S, số tiền: 26.000.000 đồng (Hai sáu triệu đồng).
- Xử phạt: Phạm Viết K, số tiền: 26.000.000 đồng (Hai sáu triệu đồng).
- Xử phạt: Nguyễn Như N2, số tiền: 22.000.000 đồng (Hai hai triệu đồng).
- Về vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền: 18.800.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ màu xanh.
( Chi tiết có tại biên bản giao nhận tài sản ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Kho bạc Nhà nước huyện T; Phiếu nhập kho ngày 09/7/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An ).
( Chi tiết vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An ).
- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu H, Lê Văn C, Phạm Viết K, Nguyễn Đình T1, Phan Huy S và Nguyễn Như N2; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Sơn |
Bản án số 68/HSST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 68/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu H và đồng phạm đánh bạc
