Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH PHÚ

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/DS – ST

Ngày: 10/5/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Duyên

Ông Lê Văn Tài

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2024/TLST - DS ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST- DS ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Y, sinh năm: 1975. Địa chỉ: số nhà H, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn D, sinh năm: 1973 (vắng mặt)
  3. Bà Lê Thị T, sinh năm: 1970 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số nhà C, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án – nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y trình bày:

Do có quen biết, nên vào ngày 25/02/2023 bà có cho vợ chồng ông Huỳnh Văn D, Lê Thị T vay 10 chỉ vàng 24k loại 9999, đến ngày 27/5/2023 bà cho ông D, bà T vay tiếp 10 chỉ vàng 24k loại 9999, bà T có viết cho bà giấy mượn 02 cây vàng 9999 vào ngày 27/5/2023. Khi cho vay có thỏa thuận khi nào có vàng sẽ trả lại, còn không thì hàng tháng ông D, bà T phải đóng lãi cho bà 4.000.000 đồng/20 chỉ vàng/1 tháng. Bà T và ông D có thực hiện việc đóng lãi cho bà với số tiền khoảng 14.000.000 đồng và đóng lãi tới tháng 8/2023 thì không đóng lãi nữa. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông D, bà T trả vàng lại cho bà nhưng ông D, bà T không trả.

Tại tòa hôm nay, bà yêu cầu giải quyết buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà 20 chỉ vàng 24k loại 9999, yêu cầu trả một lần, không yêu cầu tính lãi suất. Trước đó, do bà T và ông D không đóng lãi cho bà nên bà có lấy của bà T 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt với giá là 2.340.000 đồng. Đối với số tiền 2.340.000 đồng của 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt này tự bà sẽ thương lượng riêng với bà T, không yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Theo nội dung bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án – bị đơn bà Lê Thị T trình bày:

Bà thừa nhận vào ngày 25/02/2023 bà có vay của bà Huỳnh Thị Y 10 chỉ vàng 24k loại 9999, đến ngày 27/5/2023 bà vay tiếp 10 chỉ vàng 24k loại 9999. Khi vay có hứa khi nào có vàng sẽ trả lại, còn không thì hàng tháng bà sẽ đóng lãi cho bà Y 4.000.000 đồng/20 chỉ vàng/1 tháng. Bà có thực hiện việc đóng lãi cho bà Y với số tiền khoảng 18.000.000 đồng và đóng lãi tới tháng 8/2023 thì không đóng lãi nữa. Do điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đến nay vẫn chưa trả lại cho bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999.

Nay bà Y yêu cầu bà và ông D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999 thì bà đồng ý là chỉ cá nhân bà có nghĩa vụ trả cho bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999, nhưng khi nào có tiền thì bà sẽ trả. Bà không đồng ý việc bà Y yêu cầu buộc vợ chồng bà có nghĩa vụ liên đới trả số vàng trên cho bà Y vì chồng bà là ông Huỳnh Văn D hoàn toàn không biết và không có liên quan gì đến số vàng đã vay này. Do lãi suất hai bên tự nguyện thỏa thuận với nhau, bà Y không yêu cầu tính lãi đối với với số vàng bà nợ, nên đối với số tiền lãi bà đã đóng cho bà Y khoảng 18.000.000 đồng thì bà không yêu cầu Tòa xem xét đối với số tiền lãi đã tự nguyện đóng này. Ngoài ra, trong thời gian bà không đóng lãi cho bà Y thì bà Y có lấy của bà 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt với giá là 2.340.000 đồng. Đối với số tiền 2.340.000 đồng của 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt mà bà Y đã lấy của bà thì bà không yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn D luôn vắng mặt trong các lần hòa giải, công khai chứng cứ, xét xử nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng. Đương sự là nguyên đơn, bị đơn Lê Thị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn Huỳnh Văn D không tham gia các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại khoản 16 Điều 70 và khoản 1 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 288, 463, 466 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bà Lê Thị T và ông Huỳnh Văn D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999. Không đặt vấn đề xem xét đối với số tiền lãi trước đó bà T đã đóng cho bà Y, do bà T không có yêu cầu. Đối với số tiền 2.340.000 đồng giá của 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt, các đương sự không có yêu cầu xem xét, giải quyết trong vụ án này, nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự; sau khi phân tích, đánh giá toàn diện, nhận định đầy đủ, khách quan về các chứng cứ, những tình tiết của vụ án; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y về việc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T trả vàng vay. Bị đơn ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T đang cư trú tại số nhà C, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng ông D vẫn vắng mặt không lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt ông D là đúng quy định tại Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà Y có cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu cầu khởi kiện của bà là giấy mượn vàng đề ngày 27/5/2023 có nội dung “vợ D có mượn cô yến 2 cây vàng 9999” và có chữ ký tên, họ tên của bà Lê Thị T.

Bà Lê Thị T thừa nhận có vay của bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999 và hiện này còn nợ bà Y số vàng này, bà T đồng ý trả 20 chỉ vàng 24k loại 9999 theo yêu cầu của bà Y. Còn ông Huỳnh Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông D hoàn toàn không đến tham gia hòa giải, giải quyết vụ án để làm rõ các ý kiến của mình, ông D không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những căn cứ trên, việc bà Huỳnh Thị Y yêu cầu ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T có nghĩa vụ liên cho bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999 là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm liên đới trả nợ: Bà Huỳnh Thị Y yêu cầu ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999. Căn cứ vào Công văn số 320/UBND-TP ngày 20/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã A về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T thì trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2024, Ủy ban nhân dân xã A không có đăng ký kết hôn cho ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T, tuy nhiên, ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T đã sống chung với nhau kể từ năm 1998 đến nay. Tại thời điểm xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản thì giữa ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T vẫn sống chung với nhau. Bên cạnh đó, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Lê Thị T có thừa nhận ông Huỳnh Văn D là chồng của bà, đồng thời giấy mượn vàng đề ngày 27/5/2023 có thể hiện rõ nội dung “vợ D có mượn cô yến 2 cây vàng 9999” và có chữ ký tên, họ tên của bà Lê Thị T. Mặc dù bà T cho rằng việc bà mượn của bà Y 20 chỉ vàng là để sử dụng vào mục đích cá nhân, bà vay vàng về để cho người khác mượn lại, chồng bà là ông D hoàn toàn không hay biết nhưng ông Huỳnh Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông D hoàn toàn không đến tham gia hòa giải, giải quyết vụ án để làm rõ các ý kiến của mình, ông D không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có căn cứ cho rằng việc bà Lê Thị T vay của bà Huỳnh Thị Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999 để phục vụ mục đích phát triển kinh tế chung của gia đình giữa bà T và ông D. Lẽ đó, có căn cứ buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999.

[5] Về yêu cầu trả nợ của bà T: Bà T xin được trả số vàng nợ cho bà Y với cách thức và thời gian là khi nào có tiền sẽ trả, yêu cầu xin trả nợ này của bà T không được nguyên đơn đồng ý. Do bà T và ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Y trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Y, nên yêu cầu xin được trả số vàng nợ này với cách khi khi nào có tiền sẽ trả của bà T không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với số tiền lãi suất bà T cho rằng đã đóng cho bà Y là 18.000.000 đồng, bà T thừa nhận đây là sự tự nguyện của bà, bà không yêu cầu xem xét, giải quyết đối với số tiền lãi này nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[7] Bà Y và bà T đều trình bày việc bà Y có lấy của bà T 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt với giá 2.340.000 đồng. Tại tòa, bà Y và bà D đều thống nhất không yêu cầu giải quyết đối với số tiền 2.340.000 đồng của 02 bao lúa và 01 bao thức ăn nuôi vịt trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y được chấp nhận, nên bị đơn ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Lấy giá vàng tại thời điểm xét xử là: 7.370.000 đồng/01 chỉ để làm căn cứ tính án phí. Số tiền án phí ông D và bà T có nghĩa vụ liên đới chịu là: (7.370.000 đồng x 20 chỉ) = 147.400.000 đồng x 5% = 7.370.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 91, 92, 147, 227, 288, 235 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Y. Buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Y 20 chỉ vàng 24k loại 9999.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị T phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí với số tiền 7.370.000 đồng (Bảy triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
  3. Bà Huỳnh Thị Y được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003537 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú.

    Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn Huỳnh Văn D vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thạnh Phú;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, Văn phòng).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS – ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 68/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger