Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-8-2024

V/v: “Ly hôn, con chung giữa chị Hoa
và anh Điệp”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thu

Bà Trần Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định;

Nơi ở hiện nay: Số A đường D, B, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan.

Bị đơn: Anh Phạm Viết Đ, sinh năm 1980; Nơi thường trú: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa vắng mặt chị Hà Thị H, anh Phạm Viết Đ có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 17-10-2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 26-6-2024, bản tự khai nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H kết hôn với anh Phạm Viết Đ trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 01 tháng 10 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H, anh Đ chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 4 năm 2016 chị H sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Kể từ khi chị H sang Đài Loan, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp, tình cảm ngày càng lạnh nhạt, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị H và anh Đ đã cố gắng nhiều lần nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn và cho nhau thêm cơ hội nhưng không thành. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Viết Đ theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh Đ có hai con chung cháu Phạm Thị Huyền T, sinh ngày 03-6-2010 và cháu Phạm Huyền T1, sinh ngày 24-7-2012, hiện nay hai con chung đang sống cùng anh Đ. Khi ly hôn do chị H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên chị H đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Thị Huyền T và cháu Phạm Huyền T1 cho anh Phạm Viết Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng chị được quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chị sẽ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung ở mức 2.500.000đ/01 con/01 tháng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Hà Thị H trình bày vợ chồng chị không có tài sản chung, vợ chồng chị không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên khi ly hôn chị H không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Hiện nay chị Hà Thị H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, do khoảng cách địa lý xa xôi, tính chất công việc cũng như điều kiện không cho phép nên chị H không thể có mặt trực tiếp tại Việt Nam trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên chị H đề nghị Tòa án cho phép chị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, chị xin bảo lưu toàn bộ quan điểm của chị từ trước tới nay.

* Bị đơn anh Phạm Viết Đ đã được Toà án gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Đ trực tiếp nhận, anh đã biết được nội dung khởi kiện của chị Hà Thị H, đến nay anh không có yêu cầu phản tố. Anh Đ không có tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, anh vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên toà xét xử của Tòa án có lý do. Đến nay anh Đ không có quan điểm của mình đối với vụ án, anh chỉ ghi mấy chữ vào trong biên bản giao nhận ngày 03-6-2024 với nội dung: “Kệ cô tôi không đồng ý ly hôn, tôi nhận nuôi hai con, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tôi”.

* Tại biên bản làm việc ngày 03 tháng 6 năm 2024, Ủy ban nhân dân xã Y cung cấp: Chị Hà Thị H kết hôn với anh Phạm Viết Đ có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định vào ngày 01-10-2009, tại sổ đăng ký kết hôn của xã Y số 78/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Đ, chị H chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ chị H tại xóm C cũ nay là thôn N. Anh Đ quê gốc ở tỉnh Thái Nguyên về ở rể, anh Đ làm công nhân công ty may, chị H trước khi đi xuất khẩu lao động cũng làm công nhân công ty may ở xã Y, huyện Ý, trong cuộc sống anh Đ, chị H có xảy ra va chạm nhỏ còn cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm được, cách đây khoảng 5 đến 6 năm chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, đến nay chị H chưa về nước. Vợ chồng anh chị có hai con chung, con lớn là Phạm Thị Huyền T, sinh ngày 03-6-2010 con nhỏ là Phạm Huyền T1, sinh ngày 24-7-2012. Hiện nay hai cháu đang sống cùng anh Đ tại nhà bố mẹ đẻ của chị H. Về tài sản chung, công nợ chung địa phương không nắm được. Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh Đ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, chị Hà Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Anh Phạm Viết Đ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, 171, 175, 177, 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS như cung cấp chứng cứ. Bị đơn không có văn bản và tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Phạm Viết Đ. Con chung đề nghị giao cháu Phạm Thị Huyền T, sinh ngày 03-6-2010 và cháu Phạm Huyền T1, sinh ngày 24-7-2012 cho anh Phạm Viết Đ nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ 2.500.000đ/01 con/01 tháng cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi, chị H được quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con. Tài sản chung, công nợ của chị H, anh Đ không đề nghị Toà án giải quyết nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung chị Hà Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Viết Đ đã có ý kiến đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh. Chị Hà Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ, chị H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Phạm Viết Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 01 tháng 10 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.

[3] Trong quá trình chung sống giữa chị Hà Thị H và anh Phạm Viết Đ đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị H để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Vợ chồng chị Hà Thị H và anh Phạm Viết Đ có hai con chung cháu Phạm Thị Huyền T, sinh ngày 03-6-2010 và cháu Phạm Huyền T1, sinh ngày 24-7-2012. Hiện nay con chung đang do anh Đ và gia đình chị H nuôi dưỡng, chăm sóc tại thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Khi ly hôn, chị H nhất trí để con chung cháu Phạm Thị Huyền T và cháu Phạm Huyền T1 cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H nhận trách nhiệm sẽ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung ở mức 2.500.000đ/01 con/01 tháng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

[5] Xét nguyện vọng của anh Phạm Viết Đ trong việc nuôi con chung thì thấy: Cháu Phạm Thị Huyền T và cháu Phạm Huyền T1 đang do anh Đ và gia đình chị H nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi chị H cư trú và làm việc tại Đài Loan cho đến nay, các cháu vẫn đang được ăn ở, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho các cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, các cháu đều có nguyện vọng xin được ở với anh Đ, hiện nay chị H vẫn đang còn thời hạn của hợp đồng lao động tại Đài Loan, chị vẫn đang làm ăn ở xa nhà không có điều kiện để chăm sóc con chung. Khi ly hôn chị H cũng đồng ý giao hai con chung cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu T và cháu T1 trưởng thành. Xét thấy, con chung của vợ chồng chị H, anh Đ hiện nay còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người thân. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Phạm Thị Huyền T và cháu Phạm Huyền T1 cho anh Đ tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Viết Đ không có ý kiến về việc chị H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Bản thân chị H tự nhận chị sẽ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung ở mức 2.500.000đ/01 con/01 tháng cho đến khi con chung trưởng thành. Xét thấy, hiện nay giữa chị H và anh Đ chưa thoả thuận được với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con chung, anh Đ lại xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên giữa hai bên không có điều kiện để thương lượng hoà giải với nhau, mức cấp dưỡng chị H tự nhận ở mức 2.500.000đ/01 con/01 tháng là hoàn toàn phù hợp với mức thu nhập của chị H hiện nay nên được chấp nhận. Do đó, cần buộc chị H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung cho anh Đ mỗi con, mỗi tháng ở mức là 2.500.000đ như chị H tự nhận, kể từ tháng 9 năm 2024 đến khi con chung đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được là phù hợp.

[7] Về tài sản chung và công nợ: Chị Hà Thị H trình bày vợ chồng chị không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên khi ly hôn chị H không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Anh Phạm Viết Đ không có ý kiến gì về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng nên về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng chị H, anh Đ Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung chị Hà Thị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 71 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Phạm Viết Đ.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Phạm Thị Huyền T, sinh ngày 03-6-2010 và cháu Phạm Huyền T1, sinh ngày 24-7-2012 cho anh Phạm Viết Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị Hà Thị H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung cho anh Đ mỗi con 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng)/một tháng kể từ tháng 9 năm 2024 đến khi hai con chung đến tuổi trưởng thành và tự lập được. Chị H có quyền chăm sóc, thăm nom con nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005681 ngày 19-12-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị Hà Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    Án phí cấp dưỡng nuôi con: Buộc chị Hà Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hà Thị H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn một tháng tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, bị đơn anh Phạm Viết Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Yên Đồng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger