TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/KDTM-ST Ngày: 09/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai;
Bà Nguyễn Minh Phương;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa: Bà Đỗ Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 10/2024/TLST-KDTM ngày 01/02/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2024/QĐST-KDTM ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: : Công ty C - Ngân hàng N (sau đây viết tắt: ALC1); Trụ sở: Số D đường P, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: bà Trương Thị Xuân T - Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thanh S- Phó Tổng giám đốc; Người được ủy quyền lại: Bà Bùi Thị Kim O, bà Đặng Mai P, bà Nguyễn Thị D. Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh H; Bà Phạm Thị T1 – Luật sư - Công ty L và các Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt bà phạm Thị T2.
- Bị đơn: Công ty TNHH V (sau đây viết tắt: Công ty V); Trụ sở: Số E ngách D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T3 - Giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của đương sự, nội
- 1 -
dung vụ án như sau:
Công ty C- Ngân hàng N đã ký Hợp đồng cho thuê tài chính số: 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 với Công ty TNHH V.
Tài sản cho thuê là 01 tàu vận tải sông pha biển (VR-SI), đóng năm 2005, chở hàng khô, trọng tải 1.139,4 tấn; mang tên VINAHA27-ALC1, số đăng ký HN0335 do Sở G cấp ngày 28/7/2005.
- Tổng giá trị tài sản cho thuê: 2.621.673.755 đồng;
- Dư nợ khi cho thuê: 2.621.673.755 đồng;
- Đặt cọc: 0 đồng; Ký cược: 50.000.000đồng;
- Thời hạn thuê: 36 tháng.
- Ngày nhận nợ: 31/3/2009; Ngày trả nợ cuối cùng 16/12/2011;
- Lãi suất khi cho thuê: 12,72%/năm; Lãi suất cho thuê được áp dụng lãi suất có điều chỉnh theo tháng, mức lãi suất cụ thể tại thời điểm điều chỉnh thực hiện theo thông báo của ALC1 (trường hợp để phát sinh nợ quá hạn, lãi phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn).
Mục đích sử dụng tài sản thuê là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của Công ty V.
Tại Hợp đồng cho thuê này, Công ty V cam kết thanh toán tiền thuê cho ALC1 đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán đính kèm Hợp đồng (Khoản 1 Điều 7 Phụ lục 04B/ALC1). Khi Công ty V vi phạm Hợp đồng ở mức không thể khắc phục được, ALC1 có toàn quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê và yêu cầu Công ty V phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê chưa trả theo hợp đồng. Trong thời gian tối đa 60 ngày, nếu Công ty V chưa hoàn trả đầy đủ số tiền thuê chưa trả theo hợp đồng thì ALC1 có toàn quyền bán tài sản thuê, cho thuê lại để bảo toàn vốn cho Nhà nước. Nếu số tiền thu được không đủ thanh toán, Công ty V có trách nhiệm thanh toán đầy đủ số tiền còn thiếu đó cho ALC1.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho thuê tài chính nói trên, Công ty V để phát sinh nợ quá hạn lớn và kéo dài, vi phạm Khoản 1 Điều 7 “Thanh toán tiền thuê” của Hợp đồng thuê.
Công ty V khai thác tàu VINAHA 27-ALC1 ngoài phạm vi hoạt động, nên ngày 28/3/2009 tàu VINAHA 27-ALC1 bị chìm gần khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc.
- Tính đến ngày 10/3/2021, Công ty V phải thanh toán cho ALC1 số tiền là: 4.267.325.252 đồng, trong đó:
Nợ gốc: 1.141.673.755đồng
Nợ lãi: 3.125.651.497 đồng.
- 2 -
Đại diện ALC1 đã rất nhiều lần trực tiếp xuống trụ sở công ty V làm việc và gửi văn bản yêu cầu thanh toán dứt điểm nợ tồn đọng, thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng cho thuê tài chính, Công ty V cam kết trả nợ nhưng không thực hiện trả nợ. ALC1 đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty V phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế Công ty V trả hết nợ gốc cho ALC1.
Nếu công ty V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ALC1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty V để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 08/6/2021 ALC1 đã tiến hành đối trừ số tiền 50.000.360 đồng tiền ký cược của công ty V tại Hợp đồng cho thuê tài chính số: 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 vào số nợ gốc nên kể từ ngày 08/6/2021 số tiền nợ gốc của Công ty V còn lại là: 1.091.673.395đồng.
ALC1 yêu cầu Tòa án buộc Công ty V phải thanh toán cho ALC1 số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là: 4.900.754.106 đồng, trong đó:
Nợ gốc: 1.091.673.395đồng
Nợ lãi: 3.809.080.711đồng.
Buộc Công ty V phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 kể từ ngày 10/8/2024 cho đến ngày thực tế Công ty V trả hết nợ gốc cho ALC1.
Nếu công ty V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ALC1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty V để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngoài các yêu cầu trên, nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.
* Bị đơn được triệu tập nhiều lần trong quá trình giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên Tòa có ý kiến:
-Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Tại phiên
- 3 -
tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Cụ thể:
Buộc bị đơn trả nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là: 4.900.754.106 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.091.673.395 đồng; Nợ lãi trong hạn: 587.117.880 đồng; Nợ lãi quá hạn: 3.221.962.831 đồng.Buộc Công ty V phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 kể từ ngày 10/8/2024 cho đến ngày thực tế Công ty V trả hết nợ gốc cho ALC1.- Không chấp nhận yêu cầu ghi nhận ALC1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty V để thu hồi nợ vì bị đơn đã có ký cược và không có ký thế chấp tài sản với bên bị đơn.
- Án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; Hội đồng xét xử nhận thấy:
1. Về tố tụng:
Công ty C – Ngân hàng N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính, yêu cầu trả số tiền thuê, tiền lãi thuê đối với Công ty TNHH V đăng ký trụ sở tại số E ngách D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Bị đơn Công ty V không có yêu cầu phản tố đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia quá trình giải quyết vụ án, nhưng vắng mặt từ thời điểm Tòa án thông báo thụ lý vụ án cho đến thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án, nên không có ý kiến trình bày. Cho đến nay bị đơn không phản đối những tình tiết, tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn đưa ra, cũng như do Tòa án thu thập được và bị đơn cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự cam kết không có tài liệu, chứng cứ nào khác và
- 4 -
tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.
2. Về nội dung:
2.1. Công ty A và Công ty V ký kết Hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008. Theo đó tài sản mà Công ty V có nhu cầu thuê tài chính là 01 tàu vận tải sông pha biển (VR-SI), đóng năm 2005, chở hàng khô, trọng tải 1.139,4 tấn; mang tên VINAHA27-ALC1, số đăng ký HN0335 do Sở G cấp ngày 28/7/2005. Theo biên bản xác nhận tài sản thuê và phụ lục 04D/ALC1 tài sản được thuê từ ngày 31/12/2008, thời hạn thuê 36 tháng, thời gian ân hạn: 03 tháng kể từ ngày Công ty V ký nhận tài sản thuê.
Hội đồng xét xử nhận định: Hình thức của hợp đồng được lập và ký bằng văn bản giữa những người đại diện của các pháp nhân; Nội dung của hợp đồng được ký trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, nội dung hợp đồng phù hợp ngành nghề đăng ký, phù hợp pháp luật; Quá trình thực hiện hợp đồng các bên không thắc mắc, không khiếu nại gì; Tại phiên tòa các bên đều xác nhận việc ký hợp đồng là tự nguyện thỏa thuận, chữ ký tại các Hợp đồng và phụ lục hợp đồng là của người đại diện theo pháp luật của hai doanh nghiệp. Căn cứ Điều 388, 401, 402, 405, 408 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 385, 398, 401, 403 Bộ luật Dân sự 2015; xác định các thoả thuận trong hợp đồng có hiệu lực, các bên có quyền, nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng.
2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2004; Căn cứ Biên bản xác nhận tài sản thuê tại Phụ lục 4C/ALC1(kèm theo Hợp đồng), Công ty V đã nhận bàn giao tàu VINAHA 27-ALC1 theo nguyên trạng tài sản đã mô tả trong Hợp đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty V đã khai thác tàu VINAHA 27-ALC1 ngoài phạm vi hoạt động, ngày 28/3/2009, tàu VINAHA 27 bị chìm gần khu vực biên giới biển Việt Nam - Trung Quốc. Ngày 04/5/2009, Công ty V và ALC1 đã lập Biên bản làm việc về việc trả nợ gốc và nợ lãi của Công ty V. Tại các buổi làm việc giữa 2 bên, Công ty V cam kết từ tháng 5/2012, Công ty V mỗi tháng trả ALC1 50.000.000 đồng thu vào nợ gốc. Tuy nhiên, Công ty V đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết. Ngày 24/6/2014, Công ty V đề nghị ALC1 thanh toán số tiền ký cược là 50.000.000 đồng của Công ty V để thu nợ gốc. Biên bản đối chiếu công nợ ngày 15/3/2019 Công ty V xác nhận còn nợ Công ty A số tiền 1.141.673.755 đồng. Ngày 08/6/2021 Công ty A đã tiến hành đối trừ số tiền 50.000.360 đồng tiền ký cược của công ty V vào số nợ gốc nên số tiền nợ gốc của Công ty V còn lại là: 1.091.673.395 đồng.
Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn không thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; Biên bản đối chiếu công nợ và lời trình bày của nguyên đơn thấy có đủ căn cứ xác nhận hiện Công ty V còn nợ Công ty A số tiền gốc 1.091.673.395 đồng; do vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp pháp luật, chấp nhận yêu cầu của
- 5 -
nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc, buộc Công ty V trả Công ty ALC1 số tiền nợ gốc 1.091.673.395 đồng.
2.3. Xét yêu cầu thanh toán lãi đối với số tiền nợ gốc:
- Về mức lãi suất tính lãi: Tại Điều 5 của Hợp đồng cho thuê tài chính, phụ lục số 04B/ALC1, phụ lục 04D/ALC1 các bên thống nhất thỏa thuận về lãi suất cho thuê; Phương thức thanh toán tiền thuê: trả nợ gốc tiền thuê theo quý; Trả nợ lãi tiền thuê theo quý. Công ty A yêu cầu Công ty V trả lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán áp dụng lãi suất cho thuê 1,06%/tháng tại thời điểm ký có điều chỉnh 06 tháng 1 lần theo nguyên tắc:
+ Khi Ngân hàng N1 thực hiện điều hành lãi suất cơ bản và quy định trần lãi suất: Thì áp dụng nguyên tắc: Lãi suất cho thuê= Lãi suất huy động đầu vào của Công ty A cộng một tỷ lệ phí thuê tài chính nhất định nhưng lãi suất cho thuê tối đa không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định.
+ Khi Ngân hàng N1 bỏ quy định trần lãi suất thì lãi suất cho thuê được điều chỉnh theo nguyên tắc: Lãi suất cho thuê= Lãi suất huy động đầu vào của Công ty A cộng một tỷ lệ phí thuê tài chính tối thiểu là 0,3%/tháng.
Trường hợp đến kỳ thanh toán mà Công ty V không trả hết nợ gốc, nợ lãi của kỳ hạn đó và không có văn bản đề nghị điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn trả nợ, hoặc có văn bản nhưng không được ALC1 đồng ý cho gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ trả nợ thì Công ty V phải chịu lãi suất phạt nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn.
Nhận thấy: Các nội dung của phụ lục hợp đồng là một phần không thể tách rời hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1; việc các bên thỏa thuận trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật nên các bên có quyền, nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận đó. Người đại diện theo pháp luật của hai doanh nghiệp đã thống nhất ký Bảng đối chiếu công nợ ngày 15/3/2019, xác nhận công nợ số tiền là 1.141.673.755 đồng. Ngày 08/6/2021 sau khi Công ty A đối trừ số tiền 50.000.360 đồng tiền ký cược vào số nợ gốc; Nợ gốc của Công ty V còn lại là: 1.091.673.395 đồng.
Xét thấy: Yêu cầu lãi suất của Công ty A là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008, phù hợp với khoản 4 Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận yêu cầu bị đơn phải trả lãi cho nguyên đơn. Buộc Công ty V trả Công ty ALC1 tổng số tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc tính đến ngày 09/8/2024 là: 3.809.080.711 trong đó: Lãi suất trong hạn là 587.117.880đồng; Lãi suất quá hạn: 3.221.962.831.
Buộc Công ty TNHH V tiếp tục phải trả Công ty C- Ngân hàng N số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn nợ theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1
- 6 -
ngày 31/12/2008 từ ngày 10/8/2024 cho đến ngày thực tế Công ty TNHH V thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc
2.4. Xét yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án nội dung: " Nếu công ty V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ALC1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty V để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật" .
Xét thấy: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của mình trong suốt thời gian thực hiện Hợp đồng cho thuê tài chính, Công ty V đã ký cược 50.000.000đồng cho ALC1. Quá trình thực hiện hợp đồng, do Công ty V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ALC1, nên ALC1 đã trích khoản tiền ký cược này để thu vào nợ gốc. Ngoài biên pháp bảo đảm ký cược trên, tại Hợp đồng cho thuê tài chính và các phụ lục Hợp đồng kèm theo, các biên bản thỏa thuận, Biên bản làm việc giữa ALC1 và Công ty V không thỏa thuận về việc thế chấp, cầm cố tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
* Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 385, 398, 401, 403 Điều 357, Điều 440, 472 Bộ luật Dân sự 2015.
- - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Khoản 4 Điều 4, Điều 91 và Điều 131 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty C- Ngân hàng N khởi kiện đối với Công ty TNHH V.
2. Xác nhận tính đến ngày 9/8/2024 Công ty TNHH V nợ Công ty C- Ngân
- 7 -
hàng N theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 tổng số tiền 4.900.754.106 đồng (Bốn tỷ chín trăm triệu bảy trăm năm mươi bốn nghìn một trăm không sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.091.673.395 đồng; Lãi trong hạn: 587.117.880 đồng; Lãi quá hạn: 3.221.962.831 đồng.
Buộc Công ty TNHH V trả Công ty C- Ngân hàng N tổng số tiền 4.900.754.106 đồng.
3. Buộc Công ty TNHH V tiếp tục phải trả Công ty C- Ngân hàng N số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn nợ theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 90/2008/ALC1 ngày 31/12/2008 từ ngày 10/8/2024 cho đến ngày thực tế Công ty TNHH V thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc.
4. Không chấp nhận yêu cầu ghi nhận Công ty C- Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý các tài sản hợp pháp khác của Công ty TNHH V để thu hồi nợ, trong trường hợp Công ty TNHH V không thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty C- Ngân hàng N.
5. Án phí: Công ty C- Ngân hàng N không phải chịu án phí kinh doanh thương mại. Hoàn trả Công ty C- Ngân hàng N số tiền 56.133.662 đồng (Năm mươi sáu triệu một trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019359 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa. Công ty TNHH V phải chịu 112.900.754 đồng (Một trăm mười hai triệu chín trăm nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (chưa nộp).
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quản Văn Tiến |
- 8 -
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Quản Văn Tiến
- 9 -
Bản án số 68/2024/KDTM-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Số bản án: 68/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tín dụng
