Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 09 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Năm; 2. Ông Duyên Văn Hiền

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa- Là Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đồng Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với:

- Bị cáo:

Lê Hoài T, sinh năm 1980 (tên gọi khác: H); Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Số D, khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn B, sinh năm 1949; Con bà Nguyên Thị N, sinh năm 1956; Vợ: Phạm Thị Tuyết L, sinh năm 1985; con: có 04 người (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013); Anh chị em ruột có 04 người (lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1995); Tiền án, tiền sự: Không; Năm 2007, bị Tòa án huyện V, tỉnh Sóc Trăng phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã chấp hành xong. Năm 2021, bị Công an phường T, quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã đóng phạt xong. Bị bắt giữ ngày 22/3/2024, sau đó khởi tố chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo bị giam có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Bà Phan Thị Ú, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Bà Lê Thị Á, sinh năm: 1954; Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 21/3/2024, Lê Hoài T thường trú: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, sử dụng số điện thoại 0786.981.xxx gọi điện vào số 0768833403 (thấy được mạng internet, facebook) để gọi cho C (Người này tự xưng là C mập) mua 75 tờ vé số kiến thiết đài Sóc Trăng giả với giá 15.000.000 đồng, người này chỉ cho T đi đến vị trí cột điện (T không nhớ rõ vị trí) ở quận T, thành phố Cần Thơ lấy vé số và để lại số tiền 15.000.000 đồng.

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, Lê Hoài T điều khiển xe gắn máy, hiệu Wave màu xanh biển kiểm soát 84L1-064.75 chở con ruột Lê Thị Tố Q từ Cần Thơ xuống huyện T chơi. T mang theo 75 tờ vé số giả có đặc điểm giống nhau: Là vé số xổ số kiến thiết đài Sóc Trăng, loại K3T3, mở thưởng ngày thứ tư 20/3/2024, có dãy số “766386" (bảy sáu sáu ba tám sáu). Mỗi tờ có mệnh giá 10.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số Sóc Trăng mở ngày 20/3/2024 thì mỗi tờ vé số giả sẽ trúng giải năm với dãy số “6386”, trị giá khi trúng thưởng mỗi tờ là 1.000.000 đồng. T không nói với Q là sấp vé số giả này từ đâu mà có.

Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày T chở Q đến đoạn đường bờ sông, cạnh nhà T huyện T thuộc khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau gặp bà Phan Thị Ú và bà Lê Thị Á ngồi bán vé số. T dừng xe lại hỏi mua vé số, T hỏi bà Á số dò để dò vé số, rồi lấy 04 tờ vé số giả có đặc điểm nêu trên nói trúng số giải 1.000.000 đồng rồi đưa cho bà Á xem, bà Á đồng ý đổi thưởng nhưng chỉ đổi thưởng 03 tờ vé số giả do không đủ tiền, còn 01 tờ vé số giả thì đưa lại cho bà Ú ngồi cạnh bên đổi. Trong lúc đó T chọn mua 36 tờ vé số đài Trà Vinh (mở ngày 22/3/2024) từ sắp vé số của bà Á, trả bằng tiền đổi thưởng 03 tờ vé số giả. T cho bà Á 90.000 đồng tiền phí đổi số và nhận từ bà Á số tiền 2.550.000 đồng.

Tiếp đó, T mua của bà Ú 10 tờ vé số đài Trà Vinh, mở ngày 22/3/2024 trả bằng tiền đổi thưởng 01 tờ vé số giả. T cho bà Ú 30.000 đồng tiền phí đổi số và nhận từ bà Ú số tiền 870.000 đồng. T xếp tiền đổi được từ 04 tờ vé số giả và sắp vé số T mua của bà Á và bà Ú từ tiền đổi vé số giả cất vào túi quần sau bên trái.

Sau đó T tiếp tục chỡ Q đi lòng vòng huyện để mua vé số. T mua 52 tờ vé số của người bán vé số khác (không nhớ đặc điểm) và mua ở đâu trong huyện T dùng tiền mặt có sẵn trong bóp để mua. Mục đích đi mua vé số là để đổi vé số giả để lấy tiền nhưng những người bán vé số này không có tiền để đổi nên không đổi được.

Cùng ngày trên đường xuống huyện T đổi vé số giả cho bà Á và bà Ú; T có đến khu vực xã P, cách ngã rẽ vào Kinh Cùng xuống huyện T khoảng 5-7km đổi cho một người đàn ông lớn tuổi (không nhớ đặc điểm nhận dạng) 01 tờ vé số giả trúng đài Sóc Trăng, dãy số 6383, trị giá 1.000.000 đồng, đổi được 400.000 đồng (do người này chỉ còn 400.000 đồng để đổi), tiền đổi được T tiêu xài các nhân hết.

Kết luận giám định số 163/KL-KTHS, ngày 31/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết kuận: 04 tờ vé số “XỔ SỐ KIẾN THIẾT TỈNH SÓC TRĂNG” là giả.

Kết luận giám định số 217/KL-KTHS, ngày 06/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết kuận: 70 tờ vé số “XỔ SỐ KIẾN THIẾT TỈNH SÓC TRĂNG” là giả. Tổng số tiền T chiến đoạt là 3.880.000 đồng.

*/ Tại Cáo trạng số: 75/CT-VKS ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Lê Hoài T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan sai; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, móm cung gì đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục bồi thường cho các bị hại số tiền 4.000.000 đồng; bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoài T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Hoài T từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật dân sự; Điều 106 Bột luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 02 tờ vé có dãy số 738011, loại K3T3, đài S mở ngày 20/3/2023; Tịch thu tiêu hủy 98 tờ vé số đài Trà Vinh và 74 tờ vé số giả đài Sóc trăng. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy hiệu CITI@ màu xanh, biển số 84L1-064.75, số máy 2FMH00016651, số khung: H2PKAH006651; 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 351858831463217. Imei 2: 351858832463216 và số tiền Việt Nam 3.420.000 đồng.

Bị cáo không tham gia tranh luận chỉ nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm mức án nhẹ để sớm về với gia đình do bị cáo hiện đang nuôi mẹ già và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa và thảo luận nghị án của HĐXX cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận diễn biến nội dung vụ án như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời mô tả và truy tố. Bị cáo Lê Hoài T đã thừa nhận có hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại bằng cách lợi dụng việc đặt mua vé số giả trên mạng xã hội (facebook), là vé số xổ số kiến thiết đài Sóc Trăng, loại K3T3, mở thưởng ngày thứ tư 20/3/2024, có dãy số 766386, mỗi tờ có mệnh giá 10.000 đồng. Đối chiếu với kết quả sổ xố Sóc Trăng mở ngày 20/3/2024 thì mỗi tờ vé số giả trúng thưởng giải 5 trị giá 1.000.000 đồng.

Thủ đoạn bằng cách lợi dụng người bán vé số dạo nhẹ dạ cả tin mất cảnh giác để mua vé số mục đích để bị cáo đổi thưởng và cho tiền cò làm cho các bị hại tin rằng những tờ vé số đó là thật nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. Bằng thủ đoạn gian dối này bị cáo đã đổi thưởng 03 tờ vé số giả cho bị hại Á, mua lại 36 tờ vé số đài Trà Vinh và cho tiền cò, chiếm đoạt số tiền 2.550.000 đồng và đổi thưởng 01 tờ vé số giả của bị hại Ú, mua lại 10 tờ vé số đài Trà V và cho tiền cò chiếm đoạt 870.000 đồng vào sáng ngày 22/3/2024, tại khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau theo Kết luận giám định số 163 KL-KTHS, ngày 31/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết kuận 04 tờ vé số “XỔ SỐ KIẾN THIẾT TỈNH SÓC TRĂNG” là giả.

Như vậy, bằng thủ đoạn gian dối như đã phân tích và nhận định trên bị cáo đã chiến đoạt tiền của các bị hại trong 04 tờ vé số giả tổng số tiền 3.880.000 đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Hoài T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là đúng với hành vi của bị cáo.

[3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoài T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ khi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền chi xài và trả nợ cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Những người bị hại mà bị cáo chiếm đoạt là những người có cuộc sống khó khăn trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất tình hình an ninh trật tự xã hội nói chung, tình hình trị an ở địa phương nói riêng. Bản thân bị cáo có nhân thân không tốt. Năm 2007, bị Tòa án huyện V, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cũng về hành vi làm giả vé số kiến thiết.

Trong thời điểm hiện nay tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại bằng nhiều hình thức xảy ra đang là vấn đề bức xúc của dư luận xã hội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, trong quá trình điều tra bị cáo có nộp khắc phục hậu quả cho phía bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem đây là tình tiết làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra có thu giữ 02 tờ vé số có dãy số 738011, loại K3T3, đài S mở ngày 20/3/2023. Xét thấy đây là tài liệu giám định liên quan đến vụ án nên lưu giữ trong hồ sơ. Đối với 98 tờ vé số đài Trà Vinh được niên phong mã số NS2.2015612; 70 tờ vé số giả đài Sóc Trăng được niêm phong hoàn mẫu số 217 ngày 06/5/2024 và 04 tờ vé số giả đài Sóc Trăng hoàn mẫu số 163 ngày 31/3/2024. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối 01 xe máy hiệu CITI@ màu xanh, biển số 84L1-064.75, số máy 2FMH00016651, số khung: H2PKAH006651. Bị cáo dùng phương tiện này để thực hiện hành vi phạm tội; 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 351858831463217. Imei 2: 351858832463216. Bị cáo đã sử dụng vào mục đích phạm tội; Đối với số tiền 3.420.000 đồng chiếm đoạt của các bị hại là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[6] Đối với hành vi của bị cáo dùng 01 tờ vé số giả đổi lấy 400.000 đồng của người đàn ông lớn tuổi trên địa bàn xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau (theo lời khai của bị cáo). Hiện nay chưa làm việc được với người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra tách ra khi nào làm việc được nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Đối với Lê Thị Tố Q, quá trình điều tra xác định Q không biết bị cáo dùng vé số giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên không xử lý hình sự phù hợp.

[8 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoài T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt giữ ngày 22/3/2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 02 tờ vé số có dãy số 738011, loại K3T3, đài S mở ngày 20/3/2023 là tài liệu giám định.

Tịch thu tiêu hủy: 98 tờ vé số đài Trà Vinh được niên phong mã số NS2.2015612; 70 tờ vé số giả đài Sóc trăng được niêm phong hoàn mẫu số 217 ngày 06/5/2024 và 04 tờ vé số giả đài Sóc Trăng hoàn mẫu số 163 ngày 31/3/2024.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu CITI@ màu xanh, biển số 84L1-064.75 số máy 2FMH00016651, số khung H2PKAH006651; 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 351858831463217. Imei 2: 351858832463216 và Tiền Việt Nam 3.420.000 đồng.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo biên bản giao nhận ngày 17/7/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Hoài T2 phải nộp số tiền 200.000 đồng (chưa nộp).

4. Bản án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt họp lệ bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - CAND huyện Trần Văn Thời ;
  • - THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoài Thanh lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger