Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST

Ngày 05-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Tuyên

Bà Vi Thị Quý

Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2023/TLST - HS ngày 9 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/TLST - HS ngày tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Quang T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/5/2003 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Phố Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T1, (đã chết); con bà: Hoàng Thị Q; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản tại Bản án số 07/2021/HS-ST ngày 21/5/2021 (đã xóa án tích); bị Tòa án nhân dân huyện Văn Quan áp dụng xử lý hành chính đưa vào Trường G 24 tháng, theo quyết định số: 06/QĐ-TA ngày 12/6/2018, bị cáo đã chấp hành xong quyết định trên đến nay được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 13 tháng 9 năm 2023 đến nay, có mặt.
  2. Họ và tên: Hoàng Văn V; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 22/9/2003 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1976; Con bà: Hoàng Thị T2, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 56/HS-ST ngày 18/11/2021 (đã xóa án tích); Bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G với thời hạn 24 tháng theo quyết định số: 18/2018/QĐ-TA ngày 25/9/ 2018; Bị công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn Quyết định xử phạt hành chính số 82/QĐ-XPVPHC ngày 21/8/2018 bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản bị cáo đã chấp hành xong quyết định trên đến nay được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 13 tháng 9 năm 2023 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Ngô Thị B, sinh năm 1993, trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nông Duy T3, sinh năm 1983, trú tai Thôn C, xã Đ, H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
  2. Anh Chu Minh T4, sinh năm 2000, trú tại: Thôn N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 5/9/2023, Hoàng Văn V và Nguyễn Quang T đi bộ từ thôn N, xã Đ sang thôn P, xã Đ, huyện T để thăm người quen. Khi về các bị cáo đi qua nhà chị Ngô Thị B tại Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, thì nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu trắng nâu xám, dựng ở sân nhà chị B chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa, quan sát xung quanh không có ai nên các bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau khi bàn bạc thống nhất, Hoàng Văn V đứng ở ngoài cảnh giới còn Nguyễn Quang T đi vào sân nhà để lấy trộm chiếc xe mô tô, rồi dắt ra ngoài khoảng 30 mét thì T nổ máy điều khiển xe chở V đến khu vực cánh đồng vắng, thuộc thôn P, xã Đ, huyện T thì dừng xe mở cốp, kiểm tra bên trong thấy có một túi khẩu trang, nên V và T lấy khẩu trang để sử dụng và dùng khẩu trang che biển kiểm soát lại, rồi T tháo 02 gương chiếu hậu của xe mô tô ra ném xuống ruộng gần đó rồi điều khiển xe chở theo V đi về xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn tìm nơi tiêu thụ. Khi đến đoạn đường thuộc thị trấn Đ, huyện C, T gọi điện qua ứng dụng M cho Chu Minh T4 hỏi nơi để bán xe, sau đó thống nhất giao cho V là người trực tiếp mang xe đi bán, nếu có ai hỏi thì thống nhất nói là xe của bố V mua cho V.

Khi đến đoạn đường ngã ba thôn N, xã A, huyện V thì T xuống xe đứng chờ, còn T4 đưa V đi đến hiệu sửa xe mô tô của anh Nông Duy T3 bán được 1.000.000 đồng, số tiền này V đưa cho T cầm và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HDĐGTS, ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu trắng nâu xám, biển kiểm soát 11B1 - 070.97 có trị giá là 6.750.000 đồng.

Cáo trạng số: 62/CT-VKSTĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Văn V về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là chị Ngô Thị B đã nhận lại chiếc xe là tài sản trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì đối với các bị cáo. Anh Ngô Văn T5 là người đã mua chiếc xe mô tô với các bị cáo cũng không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 tháng tù; Bị cáo Hoàng Văn V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng đồng, số IMEI 359481088732770, máy cũ đã qua sử dụng.

Áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu mỗi bị cáo 500.000 đồng do phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận không ai có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo, để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện trong vụ án đều là hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt anh Nông Duy T3; anh Chu Minh T4. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh Nông Duy T3, anh Chu Minh T4 đã có lời khai được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của anh T3, anh T4 tại phiên tòa không ảnh hưởng gì đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo, bị hại và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 13 giờ ngày 05/9/2023, tại thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn V và Nguyễn Quang T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu trắng, nâu, xám, số máy 1103334, số khung 176441, biển kiểm soát: 11B1- 070.97 của chị Ngô Thị B đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Lạng Sơn xác định chiếc xe trên có giá trị 6.750.000 đồng. Do vậy các bị cáo Nguyễn Quang T và Hoàng Văn V đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, tuy giá trị tài sản trộm cắp là không lớn, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong một bộ phận đời sống dân cư trên địa bàn.

[5] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò ngang nhau. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự giống như nhau trong vụ án này.

[6] Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân xấu do đã từng bị kết án và bị áp dụng biện pháp lý xử hành chính, đưa vào Trường G.

[7] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay thể hiện các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[10] Về bồi thường thiệt hại: Chị Ngô Thị B đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Còn đối với anh Nông Duy T3 là người đã mua chiếc xe mô tô do V1 và T trộm cắp được, nay anh T3 cũng không yêu cầu bồi thường gì. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[11] Về bị pháp tư pháp: Đối với số tiền các bị cáo bán xe có được là 1.000.000 đồng, số tiền này là số tiền phạm tội mà có, nên cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.

[12] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số IMΕΙ 359481088732770, vỏ màu vàng đồng, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Quang T dùng liên lạc để bán chiếc xe mô tô đã trộm cắp được, cần phải tịch thu hóa giá để nộp ngân sách nhà nước.

[13] Đối với Chu Minh T4 là người giới thiệu bán xe và Nông Duy T3 là người mua xe của các bị cáo. Do anh T4, anh T3 không biết chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1 -070.97 được Nguyễn Quang T và Hoàng Văn V đem đi bán là xe trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.

[14] Những vấn đề khác với nhận định trên của Hội đồng xét xử, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[15] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Cho các bị cáo đi cải tạo tập trung để các bị cáo nhận thức được hành vi của mình, đồng thời giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội và răn đe những ai có ý định phạm tội tương tự.

[16] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.

[17] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, khoản 1 Điều 47; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T và Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 9 năm 2023.

2.2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 9 năm 2023.

3. Truy thu đối với Nguyễn Quang T, Hoàng Văn V mỗi bị cáo 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng đồng, số IMEI 359481088732770 máy cũ đã qua sử dụng.

(theo biên bản giao nhận vật chứng, ngày 09 tháng 11 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T).

5.Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Tràng Định;
  • - CQ Điều tra CA huyện Tràng Định;
  • - CQ THAHS huyện Tràng Định;
  • - UBND xã Điềm He, H. Văn Quan;
  • - UBND xã Quốc Khánh, H. Tràng Định;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ.
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang T và Hoàng Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger