trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28-6-2024

“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông Cao Hoài Hiêm.

    • Ông Nguyễn Xuân Tươi.

  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1966. Địa chỉ: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở hiện tại: ấp C, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Anh T, sinh năm: 1973. Địa chỉ: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông và vợ là bà Nguyễn Anh T chung sống vào năm 1990, trước đó có tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Trảng Bàng vào ngày 20-12-2000. Sau khi cưới, đến năm 1993 vợ chồng mua đất cất nhà. Năm 2015, vợ ông làm đổ nợ nên vợ chồng phải bán nhà để trả nợ cho vợ ông, cả gia đình về sống cùng cha mẹ vợ. Từ năm 2020 vợ chồng ly thân, vợ ông bỏ đi làm nhiều nơi ông không rõ địa chỉ, ông về sống cùng cha mẹ ông cho đến nay.

Vợ chồng chung sống có 02 con chung gồm Nguyễn Anh H1, sinh này 26-6-1991 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 20-02-1995. Hiện 02 con đã thành niên và có việc làm ổn định, cháu lớn làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và cháu nhỏ làm việc tại tỉnh Bình Dương.

Vợ chồng chung sống không có tài sản chung cũng như không có nợ chung.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ ông thường xuyên cờ bạc làm đổ nợ, vợ chồng phải bán nhà để trả nợ cho vợ ông. Nhưng vợ ông vẫn không thay đổi từ năm này đến năm khác. Mọi vấn đề về kinh tế gia đình và chuyện ăn học của các con chỉ 01 mình ông lo. Ông có khuyên nhủ nhiều lần nhưng vợ ông không nghe. Do mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được nên từ năm 2020 vợ chồng ly thân cho đến nay. Hiện vợ chồng mỗi người có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hàn gắn gia đình. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với vợ ông.

Về con chung: Các con đã thành niên và có khả năng lao động được nên ông không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Anh T: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà T vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án không thu thập được ý kiến từ bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn H đối với bà Nguyễn Anh T. Về con chung: Các con đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh sống, ông H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. [2] Về nội dung:

    • [2.1] Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Anh T chung sống với nhau vào năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Trảng Bàng vào ngày 20-12-2000, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay ông H có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.

    • Xét mâu thuẫn giữa ông bà, thì thấy: Theo lời trình bày của ông H, do bà T cờ bạc, không lo làm ăn dẫn đến bị đổ vợ, vợ chồng phải bán nhà để trả nợ cho bà T. Nhưng sau đó bà T vẫn không thay đổi. Ông H nhiều lần khuyên nhủ bà T nhưng không có kết quả. Từ năm 2020 đén nay vợ chồng ly thân và không còn quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hàn gắn gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H đối với bà T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  • [2.2] Về con chung: Ông bà có 02 con chung gồm Nguyễn Anh H1, sinh này 26-6-1991 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 20-02-1995. Hiện 02 con đều đã thành niên và có khả năng lao động được, ông H không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

  • [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông H khai không có nên không đặt ra giải quyết.

[3] Như những nhận định trên, toàn bộ đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

[4] Về án phí: Ông H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn H đối với bà Nguyễn Anh T. Ông H được ly hôn với bà T.

  2. Về con chung: Các con chung của ông bà gồm Nguyễn Anh H1, sinh này 26-6-1991 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 20-02-1995 đều đã thành niên và có khả năng lao động được, ông H không yêu cầu nên không giải quyết.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông H không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

  4. Về án phí: Ông Hổ H2 chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0015191 ngày 02-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Ông H đã nộp đủ án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện tx Trảng Bàng;
  • - CC THADS tx Trảng Bàng;
  • - UBND phường Trảng Bàng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Vân Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông H tranh chấp ly hôn với bà T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger