TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày: 05-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Đinh Tuấn Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường C – sinh năm 1996, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lơ xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trường S – sinh năm 1959 và bà Phạm Thị N (đã chết); Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay. (Có mặt)
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị N1 – sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trường C là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng cuối tháng 01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên C liên hệ với một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh để mua 2.500.000đ ma túy đá về để sử dụng một mình. Hình thức giao dịch là C đưa tiền và dùng số điện thoại 0917.200.xxx của C gọi cho người đàn ông này rồi người này chuyển ma túy bằng cách ngụy trang thành gói hàng từ thành phố Hồ Chí Minh về T cho C bằng xe vận tải hành khách Vân Chính. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, C nhận được điện thoại của tài xế nhà xe Vân Chính thông báo ra nhận hàng do một người đàn ông gửi từ thành phố Hồ Chí Minh, C biết gói hàng này chứa ma tuý vì đã đặt tiền mua trước đó nhưng do đang đi ăn tất niên ở nhà bạn nên C điện thoại nhờ chị Nguyễn Thị N1 (chị ruột C) ra nhận hàng dùm và không nói với chị N1 biết bên trong gói hàng có chứa ma tuý. Sau khi chị N1 nhận gói hàng thì bị Công an xã P tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong gói ni lông chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy nên lập biên bản phạm tội quả tang cùng tang vật.
Đến ngày 02/02/2024, Nguyễn Trường C đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định định số 329/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 4,9886 gam, loại Methamphetamine.
Theo Cáo trạng số 55/CT-VKSTP-ĐN ngày 23/4/3024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Kết luận giám định, Sơ đồ hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 01/02/2024 tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi Nguyễn Trường C nhờ chị Nguyễn Thị N1 (chị ruột C) nhận dùm một gói hàng bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 4,9886 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã P phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Thời điểm Nguyễn Trường C nhờ chị Nguyễn Thị N1 nhận dùm gói hàng thì chị N1 không biết bên trong có chứa ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
Hành vi của Nguyễn Trường C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra còn xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, còn trẻ nhưng lại có hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy, với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đã và đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn nói riêng. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.
Hội đồng xét xử xem xét cần thiết áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét không cần thiết dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 329/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10, model: 21081111RG là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị N1, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị N1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra, Nguyễn Trường C khai nhận mua ma túy của một người đàn ông không xác định được nhân thân, lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh. Do không có cơ sở để xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Thị N1 khi được Nguyễn Trường C nhờ nhận dùm gói hàng thì chị N1 không biết được bên trong có chứa ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- - Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường C: 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/02/2024.
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 329/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10, model: 21081111RG.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nam |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN TRƯỜNG CHIÊU
