TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/ HS-ST Ngày 04 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, bà Huỳnh Hoa Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Phúc T, sinh năm 2005, nơi sinh thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn H, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1985; anh chị em có 03, bị cáo là người thứ nhất; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 22/01/2023; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/3/2024 cho đến nay, (có mặt).
Bị hại: Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1993, địa chỉ: tổ F, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Thanh N, sinh năm 1978, địa chỉ: tổ F, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Người làm chứng: Phạm Văn D, Phạm Văn D1 và Nguyễn Văn T3, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 19/3/2024, Nguyễn Phúc T đi bộ một mình từ tiệm game bắn cá N thuộc tổ F, khóm C, phường V, thành phố C đến nhà của của ông Phạm Văn T2 cư trú gần đó, T thấy xe mô tô biển số 67F7-3027 đang đậu trước nhà, không người trông coi nên đi vào dắt xe ra đầu hẻm C thuộc khóm C, phường V rồi câu dây điện khởi động xe. Sau đó, T điều khiển xe đến nhà cha dượng của T tại khu vực cầu C, xã V, thành phố C thì bị ông T2 cùng một người thanh niên tên H1 (không rõ nhân thân) đuổi theo đến gần cống số 10 thuộc ấp B, xã V thì T bị mất lái đụng vào gốc cây ven đường, T bỏ lại xe và chạy xuống sàn nhà dân gần đó trốn nhưng bị người dân bắt giữ và giao cho lực lượng Công an để xử lý theo quy định.
Vật chứng thu giữ: 01 áo thun màu xám tay ngắn, phía trước áo bên tay trái và phía sau có chữ Summer Funrun'10; 01 quần jean lửng màu đen trắng, phía trước dây kéo có chữ DSQUARED2; 01 xe mô tô biển số 67F7 - 3027, màu sơn đỏ, giấy chứng nhận thể hiện màu sơn xanh, nhãn hiệu VICTORY (đã giao trả xe và giấy chứng nhận cho ông T2).
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 510/KL-ĐG ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe mô tô biển số 67F7 - 3027, màu sơn đỏ, (giấy chứng nhận thể hiện màu sơn xanh, nhãn hiệu VICTORY), trị giá 2.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSCĐ-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Nguyễn Phúc T về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu xám tay ngắn và 01 quần jean lửng màu đen trắng; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, tại nhà của ông Phạm Văn T2, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 67F7 - 3027, trị giá 2.500.000 đồng. Do đó hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, manh động, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra, ngày 28/6/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong vào ngày 22/01/2023, vào thời điểm trên bị cáo dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cho thấy bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét cho các bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo thun màu xám và 01 quần jean lửng màu đen trắng là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe 01 xe mô tô biển số 67F7 – 3027 đã giao trả cho bị hại nên không để cập giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân: Bị hại ông T2 không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/3/2024.
2. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu xám tay ngắn, phía trước áo bên tay trái và phía sau có chữ Summer Funrun'10; 01 quần jean lửng màu đen trắng, phía trước dây kéo có chữ DSQUARED2.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Phúc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Đại Nam |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc Tiền phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Tiền 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/3/2024.
