Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/5/2024

V/v: “Ly hôn giữa chị Phượng và anh Chơn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ba
  2. Ông Võ Thành Nhân

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 669/2023/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXX - DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lê Thị Diễm P, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp L, xã L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1986; Địa chỉ: 3 ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

chị P, anh C vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 9 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Diễm P trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Hữu C cưới nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn vào năm 2015. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, anh C không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị và anh C đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh C.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc A, sinh ngày 08/8/2015; Nguyễn Hữu P1, sinh ngày 01/12/2021. Hiện hai cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Hữu C biết để tham gia phiên tòa theo quy định nhưng anh C vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản phản hồi về việc chị P khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị Diễm P có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Hữu C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Chị Lê Thị Diễm P có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hữu C nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Hữu C có nơi cư trú tại xã M, thành phố M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị P và anh C cưới nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M vào năm 2015 là phù hợp với Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chị P khai là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, anh C không chăm lo cuộc sống gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay.

Xét thấy anh C đã được Tòa án triệu tập đến để hòa giải đoàn tụ nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy phía anh C không có thiện chí nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian sống ly thân giữa chị P và anh C đã kéo dài mà không giải quyết được mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị P và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P ly hôn với anh C là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc A, sinh ngày 08/8/2015; Nguyễn Hữu P1, sinh ngày 01/12/2021. Hiện hai cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.

Xét thấy do các cháu cũng đang sống chung với chị P, cháu P1 và cháu Đ đang sống chung với anh C nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống của các cháu ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị P, giao cháu Ngọc A và cháu P1 cho chị P trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi con chung. Xét thấy mức cấp dưỡng mà chị P yêu cầu là phù hợp với mức trung bình về nhu cầu thiết yếu để nuôi con tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử buộc anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng với số tiền 1.500.000 đồng cho mỗi con chung.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh C không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Chị P chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm; anh C phải chịu 300.000 đồng án phí do người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải cấp dưỡng.

[8] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị Diễm P và anh Nguyễn Hữu C.
  2. Về nuôi con chung: giao con chung tên Nguyễn Lê Ngọc A, sinh ngày 08/8/2015; Nguyễn Hữu P1, sinh ngày 01/12/2021 cho chị Lê Thị Diễm P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: anh Nguyễn Hữu C phải đóng góp nuôi cháu Nguyễn Lê Ngọc A và cháu Nguyễn Hữu P1 cho chị Lê Thị Diễm P số tiền là 1.500.000 đ/tháng (Một triệu năm trăm nghìn đồng trên tháng) cho mỗi con chung đến khi cháu Ngọc A, cháu P1 thành niên (đủ 18 tuổi).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Lê Thị Diễm P cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Hữu C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc M phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 5251 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Anh Nguyễn Hữu C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

  1. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho;
  • - Chi Cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Vĩnh Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger