|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HSST. Ngày: 01/08/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Xuân Hùng.
2. Ông Nguyễn Xuân Khải.
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên
Ngày 01/08/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 18/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 19/07/2024 đối với bị cáo:
* Vũ Văn Đ, sinh năm 2000, tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố N, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Vũ Công T, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Có vợ: Đồng Thị Thanh T1, sinh năm 2004 và chưa có con.
Tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 23/8/2021 bị Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi khai thác trái phép tài nguyên. Ngày 25/8/2021 Đ đã nộp phạt.
Bị cáo Vũ Văn Đ bị tạm giữ từ ngày 04/4/2024, đến ngày 10/04/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên tòa).
* Người tố cáo: Anh Hoàng Hữu C, sinh năm 1998 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
* Người chứng kiến:
- Chị Đồng Thị Thanh T1, sinh năm 2004 (Vắng mặt).
- Anh Vũ Xuân N, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố N, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn Đ sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, hiện đang ở tổ dân phố N, phường D, thị xã M là đối tượng sử dụng ma tuý loại Ketamine và MDMA từ năm 2018. Đại tự khai: Khoảng đầu tháng 3/2024, Đ đi xe buýt đến địa phận huyện G, thành phố Hà Nội mua 01 chỉ ma tuý Ketamine và 01 viên ma tuý dạng kẹo của một người nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ. Sau đó Đ mang về phòng ngủ sử dụng 1 phần ma tuý Ketamine và 1/2 viên ma tuý dạng kẹo, số ma tuý Ketamine còn lại trong túi nilon zip màu cam Đ cất giấu trong ngăn kéo tủ quần áo phòng ngủ; 1/2 viên ma tuý dạng kẹo trong túi nilon zip màu đỏ Đ cất giấu trong hộp kim loại cùng cân điện tử và các túi nilon khác trên gác xép trong phòng đối diện phòng ngủ của Đại để sử dụng dần. Đ dùng cân điện tử để chia ma túy khi sử dụng. Đến ngày 04/4/2024 sau khi nhận được đơn tố giác của Hoàng Hữu C ở tổ dân phố C, phường B, thị xã M. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn Đ, qua khám xét thu giữ: Trong phòng ngủ: Tại ngăn kéo tủ quần áo thu giữ 01 túi zip màu đen, bên trong có 01 túi zip màu cam chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A1) - Đ khai nhận là ma tuý Ketamine cất giấu để sử dụng. Tại ngăn kéo bàn trang điểm thu giữ 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng có bám dính chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A2). Tại gác xép trong phòng đối diện phòng ngủ của Đ thu giữ: 01 hộp kim loại hình trụ tròn màu vàng, có chữ nước ngoài ở bề mặt, bên trong có 01 túi zip màu trắng có viền đỏ, bên trong chứa chất bột màu xám (niêm phong ký hiệu A3); 01 túi zip màu trắng có viền màu đỏ có kích thước (13x8,5)cm bên trong bám dính chất dạng bột màu xám (niêm phong ký hiệu là A4-2) và 01 túi zip màu trắng có viền màu đỏ có kích thước (9,5x6)cm bên trong đều bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu là A4-1); 01 cân điện tử màu đen trên có chữ “POCKET SCALE” bên trên bề mặt có dám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu A5); 10 túi zip màu cam kích thước (3x2)cm, 05 túi zip màu đen kích thước (9x6)cm (niêm phong ký hiệu là A6); 01 điện thoại Iphone 13 promax bên trong lắp sim 0329.459.999.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone 13 promax của Đ, qua kiểm tra không có nội dung nào liên quan đến việc phạm tội.
Thông báo kết luận sơ bộ số 307/KL-KTHS (MT) ngày 04/4/2024 và Kết luận giám định số 307/KL-KTHS (MT) ngày 07/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu A1, có khối lượng 1,249gam là ma tuý loại Ketamine;
Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong niêm phong ghi ký hiệu A2, không xác định được khối lượng, là ma tuý loại Ketamine;
Mẫu chất dạng bột màu xám trong niêm phong ghi ký hiệu A3, có khối lượng là 0,380gam là ma tuý loại MDMA;
Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính được ký hiệu A4-1 trong niêm phong ghi ký hiệu A4, không xác định được khối lượng, là ma tuý loại Ketamine;
Mẫu chất dạng bột màu xám bám dính được ký hiệu A4-2 trong niêm phong ký hiệu A4, không xác định được khối lượng, là ma tuý loại MDMA;
Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong niêm phong ghi ký hiệu A5, không xác định được khối lượng, là ma tuý loại Ketamine.
H1 lại đối tượng giám định: Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ký hiệu H2, ghi số 307/KL-KTHS (MT), bên trong có 1,202 gam ma túy loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu A1; 0,361gam ma tuý loại MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu A3; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền 10.000 đồng; 01 cân điện tử màu đen có chữ “POCKET SCALE”; các vỏ túi nilon đựng ma tuý; 05 mẫu vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Mẫu hoàn được niêm phong cùng 01 điện thoại Iphone 13 thu giữ của bị can và 01 hộp kim loại màu vàng bên trong có các túi nilon dạng túi zip được niêm phong ký hiệu A6, Cơ quan điều tra đang quản lý tại kho vật chứng Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Quá trình điều tra, Vũ Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSMH ngày 17/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Vắng mặt người tố cáo là anh Hoàng Hữu C; Vắng mặt người chứng kiến là chị Đồng Thị Thanh T1 và anh Vũ Xuân N.
Bị cáo Vũ Văn Đ và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vì những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
Bị cáo Vũ Văn Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ và đề nghị với Hội đồng xét xử:
* Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
* Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đại t 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/04/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, ký hiệu “H2”, ghi số 307/KL-KTHS (MT), bên trong có 1.202gam ma túy loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu “A1” và 0.361gam ma túy loại MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu “A3”;
+ Các vỏ túi nilon đựng ma túy; 05 (Năm) mẫu vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (Một) hộp kim loại màu vàng, hình trụ tròn, bề mặt có chữ nước ngoài, bên trong có các túi nilon dạng túi zip màu cam và màu đen được niêm phong ký hiệu “A6”.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) ống hút được cuộn từ tờ tiền 10.000đ; 01 (Một) cân điện tử màu đen có chữ “POCKET SCALE” được niêm phong ký hiệu “A6”.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn Đ: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 promax màu xám, số Imeil: 356370168435458, số I: 356370168746508 bên trong lắp 1 sim.
* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Vũ Văn Đ không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M, Điều tra viên, kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
2- Lời khai nhận của bị cáo Vũ Văn Đ trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản vụ việc, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, bản ảnh, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: "Hồi 06 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, tại tổ dân phố N, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Vũ Văn Đ đã tàng trữ trái phép 1,249gam ma tuý loại Ketamine và 0,380gam ma tuý loại MDMA mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phát hiện lập biên bản và thu giữ vật chứng có liên quan”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
3- Bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, bị cáo sử dụng ma túy nên biết rõ tác hại của ma tuý không những gây cảnh nghiện ngập, làm cho gia đình kinh tế kiệt quệ, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các vụ phạm pháp hình sự, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội, nhưng chỉ vì ham chơi, thích hưởng thụ, thường xuyên có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên đã cất giấu ma tuý và dụng cụ để sử dụng ma tuý tại nơi ở của mình nhằm mục đích thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo đã phạm tội. Hơn nữa bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 23/8/2021 bị Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi khai thác trái phép tài nguyên. Chính vì vậy, cần phải áp dụng nghiêm hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện, nhằm tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xẩy ra.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử cũng xem xét đến trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà: Bị cáo không có tình tiết tăng tặng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra xác định: Hoàng Hữu C tố giác bị cáo Đ đã từng bán ma túy cho C vào cuối năm 2023, nhưng kết quả điều tra chỉ có duy nhất lời khai của C nên không đủ căn cứ chứng minh bị cáo Đ đã bán ma túy cho C. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
4- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định bị cáo Vũ Văn Đ không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, hiện tại đang bị giam giữ nên hội đồng xét xử sẽ miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
5- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, ký hiệu “H2”, ghi số 307/KL-KTHS (MT), bên trong có 1.202gam ma túy loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu “A1” và 0.361gam ma túy loại MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu “A3”; Các vỏ túi nilon đựng ma túy; 05 (Năm) mẫu vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (Một) hộp kim loại màu vàng, hình trụ tròn, bề mặt có chữ nước ngoài, bên trong có các túi nilon dạng túi zip màu cam và màu đen được niêm phong ký hiệu “A6”. Đây là những vật và vật chứng cấm lưu hành đã sử dụng vào việc phạm tội trong vụ án nên sẽ cho tịch thu tiêu hủy theo quy định.
+ Đối với 01 (Một) ống hút được cuộn từ tờ tiền 10.000đ; 01 (Một) cân điện tử màu đen có chữ “POCKET SCALE”. Xét đây là tiền Việt nam đồng sử dụng vào việc phạm tội làm ống hút để sử dụng ma tuý cũng như chiếc cân điện tử còn giá trị sử dụng nên sẽ cho tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
+ Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 promax màu xám, số Imeil: 356370168435458, số I: 356370168746508 bên trong lắp 1 sim, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác minh và tại phiên toà xác định đây là tài sản của bị cáo Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo theo quy định.
6- Về án phí: Bị cáo Vũ Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
* Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/04/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, cho tiêu huỷ 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, ký hiệu “H2”, ghi số 307/KL-KTHS (MT), bên trong có 1.202gam ma túy loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu “A1” và 0.361gam ma túy loại MDMA trong niêm phong ghi ký hiệu “A3”; Các vỏ túi nilon đựng ma túy; 05 (Năm) mẫu vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (Một) hộp kim loại màu vàng, hình trụ tròn, bề mặt có chữ nước ngoài, bên trong có các túi nilon dạng túi zip màu cam và màu đen được niêm phong ký hiệu “A6”.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) ống hút được cuộn từ tờ tiền 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 (Một) cân điện tử màu đen có chữ “POCKET SCALE".
- Trả lại bị cáo Vũ Văn Đ: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 promax màu xám, số Imeil: 356370168435458, số I: 356370168746508 bên trong lắp 1 sim.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 56/QĐ-VKSMH ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào và biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/07/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).
+ Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Văn Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
+ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Tòa đã báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhân:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Thế Dương |
Bản án số 68/2024/HSST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Đại
