Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02 – 5 – 2024

Về việc ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Danh Hưởng
  2. Ông Trần Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Mộng N, sinh năm 2002

Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Lý Đồng N1, sinh năm 1998

Địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị N, anh N1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 12 năm 2023 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Đoàn Thị Mộng N trình bày: Chị và anh Lý Đồng N1 tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 153 ngày 27/10/2022. Quá trình chung sống, anh N1 không chịu đi làm, không lo cho vợ và con. Chị đã khuyên nhủ nhiều lần, cho anh N1 cơ hội nhưng anh N1 vẫn không thay đổi nên từ tháng 8 năm 2023 chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống đến nay. Từ tháng 8 năm 2023 đến nay, anh N1 cũng không hàn gắn tình cảm với chị. Xét thấy, do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N1.

Về con chung, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, giáo dục cháu Đoàn Đăng K, sinh ngày 09/6/2018, chị không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện cháu K đang sống chung với chị. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lý Đồng N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho chị Đoàn Thị Mộng N ly hôn với anh Lý Đồng N1. Về con chung: Giao cháu Đoàn Đăng K, sinh ngày 09/6/2018 cho chị Đoàn Thị Mộng N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lý Đồng N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, chị N phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi Nên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Đoàn Thị Mộng N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lý Đồng N1. Khi khởi kiện, anh N1 trú tại ấp Nội Ô, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện P thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị N và anh N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị Mộng N và anh Lý Đồng N1 xây dựng hôn nhân năm 2017, đến năm 2022 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P theo giấy chứng nhận kết hôn số 153, cấp ngày 27/10/2022 nên hôn nhân giữa chị N và anh N1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị N xác định trong quá trình chung sống chị và anh N1 xảy nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, anh N1 không chăm lo cho gia đình. Chị N đã nhiều lần khuyên nhưng anh N1 không thay đổi nên chị và anh N1 đã ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị N và anh N1 cũng không gặp nhau để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh N1 không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, như vậy anh N1 đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị N và anh N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh N1.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, chị N và anh N1 có 01 người con là cháu Đoàn Đăng K, sinh ngày 09/6/2018. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đoàn Đăng K, không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con. Anh N1 đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị N nhưng anh N1 không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị N. Xét thấy, từ khi ly thân, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Đăng K và chăm sóc tốt cho cháu, tạo điều kiện cho cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống ổn định và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Đoàn Đăng K, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị N: Giao cháu Đoàn Đăng K, sinh ngày 09/6/2018 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh Lý Đồng N1 không phải chịu án phí.

[8] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Thị Mộng N đối với anh Lý Đồng N1. Cho chị Đoàn Thị Mộng N ly hôn với anh Lý Đồng N1.
  2. Về con chung:
    1. Giao cháu Đoàn Đăng K, sinh ngày 09/6/2018 cho chị Đoàn Thị Mộng N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Đoàn Đăng K đang sống với chị Đoàn Thị Mộng N. Anh Lý Đồng N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị Đoàn Thị Mộng N phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Đoàn Thị Mộng N đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006544 ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thu án phí. Anh Lý Đồng N1 không phải chịu án phí.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi Cục THADS huyện P;
  • - UBND xã NĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hồng Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger