Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thanh Nga.
  2. Bà Lê Thị Phương Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19, ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 329/2024/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/2025/HSST- QĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/TB –TA ngày 17/01/2025 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Quốc Đ, Giới tính: N, Sinh năm 1980 tại tỉnh Tây Ninh; ĐKHKTT: khu phố G, phường Đ, thành phố P, Tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn H (đã chết); Con bà: Võ Kim N1, sinh năm 1944; Vợ: Nguyễn Ngọc Hoa T, sinh năm 2003; Con: có 01 người sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B “Có mặt”.
  2. Võ Văn P, T1 gọi khác: H1, Giới tính: Nam, Sinh năm 1969 tại Đà Nẵng; ĐKHKTT: khu phố G, phường Đ, thành phố P, Tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: khu phố A, phường P, thành phố P, Tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Võ Hồ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N2 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Minh K, sinh năm 1988; Con: có 01 người sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “Có mặt”.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Thanh H2, sinh năm 1960 (có mặt).
    Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  2. Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    Địa chỉ: khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  3. Nguyễn Văn N3, sinh năm 1975 (vắng mặt).
    Địa chỉ: khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  4. Trương Tuấn K1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
    Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  5. Nguyễn Hữu K2, sinh năm 1979 (vắng mặt).
    Địa chỉ: khu phố B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  6. Huỳnh Thị Thanh D, sinh năm 1987 (có mặt).
    Địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/8/2024, Lê Thanh H2 (sinh năm 1960, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) có đơn tố cáo hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Bùi Quốc Đ và Võ Văn P.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp nhận, xác minh nội dung đơn nên đã triệu tập Bùi Quốc Đ và Võ Văn P về trụ sở để làm việc. Tại đây, Đ và P đã khai nhận từ ngày 25/11/2020 đến ngày 26/02/2021, Đ đưa tiền cho P để P cho H2 vay tiền dưới hình thức trả lãi đứng theo tháng, cụ thể như sau:

- Ngày 25/11/2020, H2 đã liên hệ với Võ Văn P để vay tiền, P trao đổi, thỏa thuận với Bùi Quốc Đ cho H2 vay số tiền 50.000.000 đồng, trả lãi đứng hàng tháng, lãi suất 12%/ tháng, Đ đồng ý và đưa cho P số tiền 50.000.000 đồng để cho H2 vay, việc trả lãi hàng tháng có thể chuyển khoản bằng tài khoản Ngân hàng hoặc đưa tiền mặt. Trong lần này, H2 vay từ 25/11/2020 đến 26/02/2021, tức là 03 tháng, đã trả lãi đủ, chưa trả tiền gốc.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm. P cho H2 vay với lãi suất 12%/tháng, tức là 144%/năm với lãi suất vượt 7,2 lần.

Tính tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự và số tiền thu lợi bất chính của Đ và P, như sau:

+ Số tiền lãi H2 đã trả: (50.000.000 đồng x 12%) x 03 tháng = 18.000.000 đồng.

+ Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi H2 phải trả trong 03 tháng là: 50.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 3 tháng = 2.490.000 đồng.

Như vậy, số tiền Đ và P thu lợi bất chính là: 18.000.000 đồng – 2.490.000 đồng = 15.510.000 đồng.

Đến ngày 26/02/2021, H2 tiếp tục vay của P số tiền 150.000.000 đồng (tiền Đ đưa cho P), cộng với số tiền 50.000.000 đồng trong lần vay ngày 25/11/2020 thì tổng số tiền H2 vay là 200.000.000 đồng dưới hình thức trả lãi đứng theo tháng, lãi suất là 12%/tháng, tức là 24.000.000 đồng/tháng, H2 đã trả tiền lãi đến tháng 6/2023, cụ thể:

- Từ tháng 02/2021 đến tháng 3/2022, tức là 13 tháng, H2 trả lãi đủ với tổng số tiền lãi đã trả là (24.000.000 đồng x 13 tháng) = 312.000.000 đồng.

+ Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi H2 phải trả trong 13 tháng là: 200.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 13 tháng = 43.160.000 đồng.

Như vậy, số tiền Đ và P thu lợi bất chính là: 312.000.000 đồng – 43.160.000 đồng = 268.840.000 đồng.

- Tháng 04/2022, H2 chỉ trả tiền lãi là 3.000.000 đồng. (Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi H2 phải trả là: 200.000.000 đồng x 20%/12 tháng = 3.320.000 đồng), do đó tháng 04/2022, P không thu lợi bất chính.

- Tháng 05/2022, H2 không trả tiền lãi.

- Tháng 06/2022, H2 trả cho P tiền lãi số tiền 24.000.000 đồng nên số tiền P thu lợi bất chính trong tháng 06/2022 là: 24.000.000 đồng - 3.320.000 đồng = 20.680.000 đồng.

- Tháng 07/2022, ông H2 trả cho P số tiền 6.000.000 đồng tiền lãi nên số tiền P thu lợi bất chính trong tháng 07/2022 là: 6.000.000 đồng - 3.320.000 đồng = 2.680.000 đồng.

- Tháng 08/2022 và 09/2022, H2 không trả tiền lãi.

- Tháng 10/2022, H2 trả cho P số tiền 24.000.000 đồng tiền lãi nên số tiền P thu lợi bất chính trong tháng 10/2022 là: 24.000.000 đồng - 3.320.000 đồng = 20.680.000 đồng.

- Tháng 11/2022, H2 trả cho P số tiền 20.000.000 đồng tiền lãi nên số tiền P thu lợi bất chính trong tháng 11/2022 là: 20.000.000 đồng - 3.320.000 đồng = 16.680.000 đồng.

- Tháng 12/2022, H2 không trả tiền lãi cho P.

- Tháng 01/2023, H2 trả cho P số tiền 20.000.000 đồng tiền lãi nên số tiền P thu lợi bất chính trong tháng 01/2023 là: 20.000.000 đồng - 3.320.000 đồng = 16.680.000 đồng.

- Từ tháng 02/2023 đến tháng 04/2023, H2 không trả tiền lãi.

- Tháng 05/2023, H2 trả cho P số tiền 20.000.000 đồng tiền lãi nên số tiền P thu lợi bất chính trong tháng 05/2023 là: 20.000.000 đồng - 3.320.000 đồng = 16.680.000 đồng.

- Đến tháng 06/2023, H2 không trả tiền lãi cho P mà trả số tiền gốc 200.000.000 đồng cho P.

Như vậy đối với khoản vay của Lê Thanh H2:

- Tiền gốc: 200.000.000 đồng, H2 đã trả lại cho P, P đưa lại cho Đ.

- Tiền lãi H2 phải trả theo quy định của Bộ luật Dân sự trong 02 khoản vay là: 2.490.000 đồng + 43.160.000 đồng + 3.000.000 đồng + 3.320.000 đồng + 3.320.000 đồng + 3.320.000 đồng + 3.320.000 đồng + 3.320.000 đồng + 3.320.000 đồng = 68.570.000 đồng.

Vậy tổng số tiền Đ và P thu lợi bất chính từ H2 trong tổng cộng 02 lần vay hình thức trả lãi đứng theo tháng là: 429.000.000 đồng - 68.570.000 đồng + 15.510.000 đồng = 375.940.000 đồng.

Quá trình điều tra còn xác định, vào ngày 16/5/2024 Bùi Quốc Đ cho Nguyễn Ngọc T2 vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 120%/năm vượt 6 lần theo quy định. T2 đã trả cho Đ 03 tháng tiền lãi với tổng số tiền lãi đã trả là 60.000.000 đồng.

- Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi T2 phải trả trong 3 tháng là: 200.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 3 tháng = 9.960.000 đồng.

Như vậy, số tiền Đ thu lợi bất chính là: 60.000.000 đồng – 9.960.000 đồng = 50.040.000 đồng.

Đối với Võ Văn P, quá trình điều tra còn xác định:

1. Từ ngày 17/3/2022 đến 28/4/2022, P cho Nguyễn Văn N3 vay tổng cộng 06 lần tiền dưới hình thức trả lãi đứng theo tháng, với lãi suất mỗi lần khác nhau từ 10% đến 15%/tháng gấp 06 đến 09 lần theo quy định, cụ thể:

Lần 1: Ngày 17/3/2022, N3 vay của P số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, P lấy trước 01 tháng tiền lãi được tính cho tháng cuối cùng khi Nở thanh toán hết khoản nợ, tức 7.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho N3 số tiền 63.000.000 đồng.

Lần 2: Ngày 21/3/2022, N3 vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng, P lấy trước 01 tháng tiền lãi được tính cho tháng cuối cùng khi Nở thanh toán hết khoản nợ, tức 6.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho N3 số tiền 44.000.000 đồng.

Lần 3: Ngày 22/3/2022, N3 vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng, P lấy trước 01 tháng tiền lãi được tính cho tháng cuối cùng khi Nở thanh toán hết khoản nợ, tức 6.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho N3 số tiền 44.000.000 đồng.

Lần 4: Ngày 26/3/2022, N3 vay của P số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, P lấy trước 01 tháng tiền lãi được tính cho tháng cuối cùng khi Nở thanh toán hết khoản nợ, tức 15.000.000 đồng tiền lãi, đưa cho N3 số tiền 85.000.000 đồng.

Lần 5: Ngày 25/4/2022, N3 vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, P lấy trước 01 tháng tiền lãi được tính cho tháng cuối cùng khi Nở thanh toán hết khoản nợ, tức 7.500.000 đồng tiền lãi, đưa cho N3 số tiền 42.500.000 đồng.

Lần 6: Ngày 28/4/2022, N3 vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, P lấy trước 01 tháng tiền lãi được tính cho tháng cuối cùng khi Nở thanh toán hết khoản nợ, tức 7.500.000 đồng tiền lãi, đưa cho N3 số tiền 42.500.000 đồng.

- Tháng 4/2022, N3 phải trả cho P tổng số tiền lãi cho các khoản vay 1, 2, 3, 4 với tổng số tiền lãi phải trả là 34.000.000 đồng. Tháng 4/2022, N3 đã chuyển cho P số tiền 42.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 34.000.000 đồng, số tiền 8.000.000 đồng dư được tính cho tháng 5/2022.

+ Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi N3 phải trả cho P theo tháng trong lần vay 1, 2, 3, 4 là: (270.000.000 đồng x 1,66%) = 4.482.000 đồng.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 4/2022 là: 34.000.000 đồng - 4.482.000 đồng = 29.518.000 đồng.

- Tháng 5/2022, N3 phải trả cho P tổng số tiền lãi cho các khoản vay từ 1 tới 6 với tổng số tiền lãi phải trả là: 49.000.000 đồng. Tháng 5/2022, N3 đã chuyển cho P số tiền 42.000.000 đồng, cộng 8.000.000 đồng tiền dư trong tháng 4/2022, tổng cộng là 50.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 49.000.000 đồng, số tiền 1.000.000 đồng dư được tính cho tháng 6/2022.

+ Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi N3 phải trả cho P theo tháng trong 6 lần vay là: (370.000.000 đồng x 1,66%) = 6.142.000 đồng.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 5/2022 là: 49.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 42.858.000 đồng.

- Tháng 6/2022, N3 chuyển cho P số tiền 35.000.000 đồng tiền lãi, cộng với 1.000.000 đồng tiền dư trong tháng 5/2022, tổng cộng là 36.000.000 đồng.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 6/2022 là: 36.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 29.858.000 đồng.

- Tháng 7/2022, N3 chuyển cho P số tiền 40.000.000 đồng tiền lãi.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 7/2022 là: 40.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 33.858.000 đồng.

- Tháng 8/2022, N3 không trả tiền lãi.

- Tháng 9/2022, N3 chuyển cho P số tiền 15.000.000 đồng tiền lãi.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 9/2022 là: 15.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 8.858.000 đồng.

- Tháng 10, 11 và 12/2022, N3 không trả tiền lãi.

- Tháng 01/2023, N3 chuyển cho P số tiền 10.000.000 đồng tiền lãi.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 01/2023 là: 10.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 3.858.000 đồng.

- Tháng 02/2023, N3 không trả tiền lãi.

- Tháng 03/2023, N3 chuyển cho P số tiền 10.000.000 đồng tiền lãi.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 03/2023 là: 10.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 3.858.000 đồng.

- Từ tháng 4/2023 đến tháng 11/2023, N3 không trả tiền lãi.

- Tháng 12/2023, N3 chuyển cho P số tiền 50.000.000 đồng tiền lãi, trong đó 49.000.000 đồng trả lãi tháng 12/2023, dư 1.000.000 đồng để trả cho tháng 01/2024.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng 12/2023 là: 49.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 42.858.000 đồng.

- Tháng 01/2024, N3 không chuyển tiền lãi cho P mà dùng 1.000.000 đồng tiền chuyển dư vào tháng 12/2023 để trả lãi cho P.

- Kể từ tháng 02/2024 đến tháng 7/2024, P và N3 thỏa thuận không tính lãi cho 06 khoản vay mà N3 có nghĩa vụ phải trả tiền gốc còn lại cho P với tổng số tiền gốc của 06 khoản vay là: 70.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 100.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 50.000.000 đồng = 370.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian này, N3 đã trả tiền gốc cho P tổng cộng 45.000.000 đồng, còn nợ lại tiền gốc là 325.000.000 đồng.

Do P lấy tiền lãi tháng cuối của 06 khoản vay nên P đã nhận tổng cộng 49.000.000 đồng tiền lãi cho tháng cuối.

+ Số tiền lãi P thu lợi bất chính trong tháng cuối là: 49.000.000 đồng - 6.142.000 đồng = 42.858.000 đồng.

=> Tổng số tiền gốc N3 chưa trả cho P là 325.000.000 đồng, đã trả 45.000.000 đồng tiền gốc.

+ Tổng số tiền P đã nhận từ Nở theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 4.482.000 đồng + 6.142.000 đồng + 6.142.000 đồng + 6.142.000 đồng + 6.142.000 đồng + 6.142.000 đồng + 6.142.000 đồng + 6.142.000 đồng + 1.000.000 đồng = 48.476.000 đồng.

+ Tổng số tiền P thu lợi bất chính từ Nở là: 29.518.000 đồng + 42.858.000 đồng + 29.858.000 đồng + 33.858.000 đồng + 8.858.000 đồng + 3.858.000 đồng + 3.858.000 đồng + 42.858.000 đồng = 194.751.000 đồng.

2. Vào tháng 11/2021, P cho Trương Tuấn K1 vay số tiền 900.000.000 đồng, với lãi suất là 12%/tháng gấp 06 lần theo quy định, tương đương 108.000.000 đồng/ tháng.

- Kiệt trả lãi tháng 11/2021 cho P với số tiền lãi là 108.000.000 đồng.

+ Số tiền P đã nhận từ K1 theo quy định của Bộ luật Dân sự trong tháng 11/2021 là: 900.000.000 đồng x 1,66% = 14.940.000 đồng.

+ Số tiền P thu lợi bất chính từ K1 trong tháng 11/2021 là: 108.000.000 đồng - 14.940.000 đồng = 93.060.000 đồng.

Do K1 không có khả năng trả nợ cho P nên đến tháng 01/2023, K1 và P thống nhất chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL454152 với giá trị 2.000.000.000 đồng để khấu trừ vào số tiền lãi và tiền gốc K1 còn nợ P tính đến tháng 12/2022 là 13 tháng.

+ Tổng số tiền K1 còn nợ P tính đến tháng 12/2022 là: (108.000.000 đồng x 13 tháng ) + 900.000.000 đồng = 2.304.000.000 đồng.

Do K1 và P đã thống nhất giá trị của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL454152 là 2.000.000.000 đồng, trong đó 1.404.000.000 đồng là tiền lãi, 600.000.000 đồng là tiền gốc.

+ Số tiền P đã nhận từ K1 theo quy định của Bộ luật Dân sự trong thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 12/2022 là: 14.940.000 đồng x 13 tháng = 194.220.000 đồng.

+ Số tiền P thu lợi bất chính từ K1 trong thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 12/2022 là: 1.404.000.000 đồng - 194.220.000 đồng = 1.209.800.000 đồng.

=> Như vậy số tiền gốc K1 đã trả cho P là 600.000.000 đồng, còn nợ lại 300.000.000 đồng.

+ Số tiền P đã nhận từ K1 theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 194.220.000 đồng + 14.940.000 đồng = 209.160.000 đồng.

+ Số tiền P thu lợi bất chính từ K1 là: 93.060.000 đồng + 1.209.800.000 đồng = 1.302.800.000 đồng.

3. Từ ngày 23/3/2024 đến tháng 7/2024, P cho Nguyễn Hữu K2 vay tiền 04 lần với lãi suất 12%/tháng gấp 06 lần theo quy định.

Lần 1: Vào ngày 23/3/2024, K2 vay của P số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng, tương đương 1.200.000 đồng, trả đến tháng 7/2024 thì không tiếp tục trả, tức là được 04 tháng.

+ Tổng số tiền tiền lãi K2 đã trả cho P là: 1.200.000 đồng x 4 tháng = 4.800.000 đồng.

+ Tổng số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự là: (10.000.000 đồng x 1,66%) x 4 tháng = 664.000 đồng.

+ Tổng số tiền P thu lợi bất chính là: 4.800.000 đồng - 664.000 đồng = 4.136.000 đồng.

Lần 2: Ngày 29/4/2024, K2 vay của P số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng, tương đương 2.400.000 đồng, trả đến tháng 7/2024 thì không tiếp tục trả, tức là được 03 tháng.

+ Tổng số tiền tiền lãi K2 đã trả cho P là: 2.400.000 đồng x 3 tháng = 7.200.000 đồng.

+ Tổng số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự là: (20.000.000 đồng x 1,66%) x 3 tháng = 996.000 đồng.

+ Tổng số tiền P thu lợi bất chính là: 7.200.000 đồng - 996.000 đồng = 6.204.000 đồng.

Lần 3: Ngày 23/5/2024, K2 vay của P số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng, tương đương 3.600.000 đồng, trả đến tháng 7/2024 thì không tiếp tục trả, tức là được 02 tháng.

+ Tổng số tiền tiền lãi K2 đã trả cho P là: 3.600.000 đồng x 2 tháng = 7.200.000 đồng.

+ Tổng số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự là: (30.000.000 đồng x 1,66%) x 02 tháng = 996.000 đồng.

+ Tổng số tiền P thu lợi bất chính là: 7.200.000 đồng - 996.000 đồng = 6.204.000 đồng.

Lần 4: Tháng 7/2024, K2 vay của P số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng, tương đương 1.200.000 đồng, trả đến tháng 8/2024 thì không tiếp tục trả, tức là được 01 tháng.

+ Tổng số tiền tiền lãi K2 đã trả cho P là: 1.200.000 đồng.

+ Tổng số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 10.000.000 đồng x 1,66% = 166.000 đồng.

+ Tổng số tiền P thu lợi bất chính là: 1.200.000 đồng - 166.000 đồng = 1.034.000 đồng.

Đến tháng 08/2024, K2 đã trả hết số tiền 70.000.000 đồng tiền gốc của 04 lần vay.

=> Tổng số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong 04 lần vay là: 664.000 đồng + 996.000 đồng + 996.000 đồng + 166.000 đồng = 2.822.000 đồng.

+ Tổng số tiền P thu lợi bất chính từ K2 trong 04 lần vay là: 4.136.000 đồng + 6.204.000 đồng + 6.204.000 đồng + 1.034.000 đồng = 17.578.000 đồng.

4. Huỳnh Thị Thanh D: Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 06/6/2024, bà D đã vay của P tổng cộng 11 lần dưới hình thức trả lãi đúng theo tháng, mỗi lần đều lãi suất 10%/tháng gấp 06 lần theo quy định.

Lần 1: Vào ngày 01/01/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương tương 5.000.000 đồng/tháng, đến ngày 13/01/2024, bà D trả cho P số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc và 2.500.000 đồng tiền lãi ½ tháng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 1 là: (50.000.000 đồng x 20%/12 tháng)/2 = 415.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 1 là: 2.500.000 đồng – 415.000 đồng = 2.085.000 đồng.

Lần 2: Ngày 15/01/2024, bà D vay của P số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 10.000.000 đồng/tháng đến ngày 14/02/2024, bà D trả cho P số tiền 100.000.000 đồng tiền gốc và 10.000.000 đồng tiền lãi 01 tháng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 2 là: 100.000.000 đồng x 20%/12 tháng = 1.660.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 2 là: 10.000.000 đồng – 1.660.000 đồng = 8.340.000 đồng.

Lần 3: Ngày 17/01/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng/tháng, bà D trả lãi được 07 tháng thì không còn khả năng chi trả.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận trong lần 3 là: 5.000.000 đồng x 07 tháng = 35.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 3 là: 50.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 07 tháng= 5.810.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 3 là: 35.000.000 đồng – 5.810.000 đồng = 29.190.000 đồng.

Lần 4: Ngày 18/01/2024, bà D vay của P số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương tương 7.000.000 đồng, bà D trả lãi được 07 tháng thì không còn khả năng chi trả, do có 02 tháng bà D trả lãi trễ nên P buộc bà D phải trả 2.000.000 đồng tiền phí chậm trả.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận trong lần 4 là: 7.000.000 đồng x 07 tháng = 49.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 4 là: 70.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 07 tháng= 8.134.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 4 là: 49.000.000 đồng – 8.134.000 đồng + 2.000.000 đồng (tiền chậm trả) = 42.866.000 đồng.

Lần 5: Ngày 13/02/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng, đến ngày 10/4/2024, bà D đã trả 50.000.000 đồng tiền gốc và 02 tháng tiền lãi tương đương 10.000.000 đồng cho P.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 5 là: 50.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 02 tháng= 1.660.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 4 là: 10.000.000 đồng – 1.660.000 đồng = 8.340.000 đồng.

Lần 6: Ngày 19/02/2024, bà D vay của P số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 15.000.000 đồng, bà D trả lãi được 05 tháng, đến tháng 08/2024 bà D chỉ trả được 8.000.000 đồng tiền lãi.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận trong lần 6 là: (15.000.000 đồng x 05 tháng) + 8.000.000 đồng = 83.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 6 là: 150.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 06 tháng= 14.940.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 6 là: 83.000.000 đồng – 14.940.000 đồng = 68.060.000 đồng.

Lần 7: Ngày 27/3/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng, đến ngày 10/4/2024, bà D trả cho P số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc và 2.500.000 đồng tiền lãi ½ tháng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 7 là: (50.000.000 đồng x 20%/12 tháng)/2 = 415.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 7 là: 2.500.000 đồng – 415.000 đồng = 2.085.000 đồng.

Lần 8: Ngày 22/4/2024, bà D vay của P số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 15.000.000 đồng, bà D trả tiền lãi tháng 5, 6, 7/2024 đầy đủ, tháng 8/2024 bà D trả lãi được 10.000.000 đồng.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận từ bà D trong lần thứ 8 là: 15.000.000 đồng x 3 tháng + 10.000.000 đồng = 55.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 8 là: 150.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 04 tháng= 9.960.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 8 là: 55.000.000 đồng – 9.960.000 đồng = 45.040.000 đồng.

Lần 9: Ngày 09/5/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng, bà D trả lãi được 03 tháng, đến ngày 06/8/2024, bà D đã trả 50.000.000 đồng tiền gốc cho P.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận từ bà D trong lần thứ 9 là: 5.000.000 đồng x 03 tháng = 15.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 9 là: 50.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 03 tháng= 2.490.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 9 là: 15.000.000 đồng – 2.490.000 đồng = 12.510.000 đồng.

Lần 10: Ngày 13/5/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng, bà D trả lãi được 03 tháng.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận từ bà D trong lần thứ 10 là: 5.000.000 đồng x 03 tháng = 15.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 10 là: 50.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 03 tháng= 2.490.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính từ bà D trong lần 10 là: 15.000.000 đồng – 2.490.000 đồng = 12.510.000 đồng.

Lần 11: Ngày 06/6/2024, bà D vay của P số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, tương đương 5.000.000 đồng, bà D trả lãi được 02 tháng, đến ngày 06/8/2024, bà D đã trả 50.000.000 đồng tiền gốc cho P.

- Tổng số tiền lãi P đã nhận từ bà D trong lần thứ 11 là: 5.000.000 đồng x 02 tháng = 10.000.000 đồng.

- Số tiền P được nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự trong lần 11 là: 50.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 02 tháng= 1.660.000 đồng.

- Số tiền P thu lợi bất chính của bà D trong lần 11 là: 10.000.000 đồng – 1.660.000 đồng = 8.340.000 đồng.

=> Như vậy tổng cộng bà D đã vay của P số tiền: 50.000.000 đồng + 100.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 70.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 150.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 150.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 50.000.000 đồng + 50.000.000 đồng = 820.000.000 đồng.

- Tổng số tiền P nhận được theo quy định của Bộ luật Dân sự trong 11 lần vay là: 415.000 đồng + 1.660.000 đồng + 5.810.000 đồng + 8.134.000 đồng + 1.660.000 đồng + 14.940.000 đồng + 415.000 đồng + 9.960.000 đồng + 2.490.000 đồng + 2.490.000 đồng + 1.660.000 đồng = 49.634.000 đồng.\

- Tổng số tiền P thu lợi bất chính từ bà D là: 2.085.000 đồng + 8.340.000 đồng + 29.190.000 đồng + 42.866.000 đồng + 8.340.000 đồng + 68.060.000 đồng + 2.085.000 đồng + 45.040.000 đồng + 12.510.000 đồng + 12.510.000 dồng + 8.340.000 đồng = 239.366.000 đồng.

Sau đó bà D đã trả cho P số tiền 290.000.000 đồng tiền gốc.

- Tổng số tiền gốc bà D chưa trả cho P tính đến ngày 19/8/2024 là: 820.000.000 đồng – 50.000.000 đồng – 100.000.000 đồng – 50.000.000 đồng – 50.000.000 đồng – 50.000.000 đồng – 50.000.000 đồng – 290.000.000 đồng = 180.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • Thu giữ từ Võ Văn P:
    • + 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, có chứa sim số 0981.025.061;
    • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL454152 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 19/5/2023;
  • Thu giữ từ Bùi Quốc Đ: 01 điện thoại di động Samsung có chứa sim số 0968.039.491;

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, có chứa sim số 0981.025.061 và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL454152 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 19/5/2023 thu giữ từ Võ Văn P; 01 điện thoại di động Samsung có chứa sim số 0968.039.491 thu giữ từ Bùi Quốc Đ. P và Đ khai dùng điện thoại trên để hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Viện kiểm sát thành phố P đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 326/CT – VKSPT - HS ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo Bùi Quốc Đ, Võ Văn P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quốc Đ mức án từ 09 đến 12 tháng tù; phạt bổ sung 30 đến 40 triệu đồng; xử phạt bị cáo Võ Văn P mức án từ 12 đến 18 tháng tù phạt bổ sung 40 đến 50 triệu đồng và đề nghị xử lý biện pháp tư pháp.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết. Các bị cáo biết việc làm của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 25/11/2020 đến tháng 8/2024, Bùi Quốc Đ và Võ Văn P đã có hành vi cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, cụ thể:

  • Bùi Quốc Đ cùng với Võ Văn P đã cho Lê Thanh H2 vay 02 lần dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 144%/năm gấp 7,2 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự để lấy số tiền 375.940.000 đồng.
  • Bùi Quốc Đ cho Nguyễn Ngọc T2 vay 01 lần dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 120%/năm gấp 06 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự để lấy số tiền 50.040.000 đồng.
  • Võ Văn P cho Nguyễn Văn N3 vay 06 lần tiền dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng số tiền 370.000.000 đồng với lãi suất từ 120% đến 180% gấp 06 đến 09 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự để lấy số tiền 194.751.000 đồng.
  • Võ Văn P cho Trương Tuấn K1 vay 01 lần tiền dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng số tiền 900.000.000 đồng với lãi suất từ 144% gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự để lấy số tiền 1.302.800.000 đồng.
  • Võ Văn P cho Nguyễn Hữu K2 vay 04 lần tiền dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất từ 144% gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự để lấy số tiền 17.578.000 đồng.
  • Võ Văn P cho Huỳnh Thị Thanh D vay 11 lần tiền dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng số tiền 820.000.000 đồng với lãi suất từ 120% gấp 06 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự để lấy số tiền 239.366.000 đồng.

Tổng số tiền Bùi Quốc Đ thu lợi bất chính là: 425.980.000 đồng.

Tổng số tiền Võ Văn P thu lợi bất chính là: 1.754.495.000 đồng.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cho vay tiền với mức lãi suất vượt quá 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Bộ Luật Dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Quốc Đ và Võ Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn mang tính chất bóc lột làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng thậm chí phải bán tài sản để trả nợ, ngoài ra hành vi phạm tội của các bị cáo còn có khả năng làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự cũng như sức khỏe của những người vay tiền và gia đình của họ. Mặc dù bản thân các bị cáo biết rõ việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng các bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả các bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, bị cáo P là người giúp sức cho bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, khi quyết định hình phạt xem xét tính chất, vai trò phạm tội của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Đ, P thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Võ Văn P là lao động chính trong gia đình (có đơn xác nhận của UBND phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Đ đã tác động gia đình nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của các bị cáo, mặc dù các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Ngân hàng N4 trong lĩnh vực tài chính. Hành vi cho vay lãi nặng tự phát, không tuân thủ các quy tắc tín dụng, không có sự quản lý của Ngân hàng N4 gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một hình phạt tương xứng với vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm thể hiện tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

[5]Biện pháp tư pháp:

  • + Buộc bị cáo Đ phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Lê Thanh H2 số tiền là 375.940.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo Đ phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Nguyễn Ngọc T2 số tiền là 50.040.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho Nguyễn Văn N3 số tiền là 194.751.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Trương Tuấn K1 số tiền là 1.302.800.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Nguyễn Hữu K2 số tiền là 17.578.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho bà Huỳnh Thị Thanh D số tiền là 239.366.000 đồng.
  • + Số tiền gốc mà Nguyễn Ngọc T2 còn nợ chưa trả cho bị cáo Đ là 200.000.000 đồng. Đây là số tiền gốc còn lại bị cáo Đ dùng cho vay vào hoạt động phạm tội, do đó buộc Nguyễn Ngọc T2 nộp lại số tiền này để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • + Số tiền gốc mà Nguyễn Văn N3 còn nợ chưa trả cho bị cáo P là 325.000.000 đồng. Đây là số tiền gốc còn lại bị cáo P dùng cho vay vào hoạt động phạm tội, do đó buộc Nguyễn Văn N3 nộp lại số tiền này để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • +Số tiền gốc mà Trương Tuấn K1 còn nợ chưa trả cho bị cáo P là 300.000.000 đồng. Đây là số tiền gốc còn lại bị cáo P dùng cho vay vào hoạt động phạm tội, do đó buộc Trương Tuấn K1 nộp lại số tiền này để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • +Số tiền gốc mà Huỳnh Thị Thanh D còn nợ chưa trả cho bị cáo P là 180.000.000 đồng. Đây là số tiền gốc còn lại bị cáo P dùng cho vay vào hoạt động phạm tội, do đó buộc diệu nộp lại số tiền này để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • + Buộc bị cáo Đ nộp lại số tiền 278.530.000 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 1.665.092.000 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Đối với khoản tiền phí chậm trả là 2.000.000 đồng, tại phiên toà bị cáo P và bà D đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax, có chứa sim số 0981.025.061 của bị cáo P dùng liên hệ cho vay lãi nặng, 01 điện thoại di động hiệu Sam sung có chứa sim số 0968.039.491 là điện thoại bị cáo Đ sử dụng cho vay lãi nặng.
  • +Trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 454152 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/5/2023 cho bị cáo P.
  • +Tiếp tục tạm giữ số tiền 269.000.000 đồng do người nhà bị cáo Đ đã nộp vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo giấy nộp tiền ngày 20/9/2024 của Ngân hàng N5 để đảm bảo thi hành án.

Đối với Lê Thành T3, Phạm Tuấn K3 là những người đã vay tiền của Bùi Quốc Đ; Phạm Thị A là những người đã vay tiền của Võ Văn P với lãi suất 6%/tháng gấp 3,6 lần lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự, do đó trong các lần cho vay này không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên không xem xét xử lý đối với Đ và P là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Văn H3 là người đã vay tiền của Bùi Quốc Đ; Nguyễn Chí H4 vay tiền của Võ Văn P với lãi suất cao nhưng do chưa làm việc được với H3 và H4 nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án, để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc Đ, Võ Văn P cùng phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

* Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Bùi Quốc Đ phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

* Xử phạt: Bị cáo Võ Văn P 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Võ Văn P phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).

2. Biện pháp tư pháp:

Áp dụng: điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự

  • + Buộc bị cáo Bùi Quốc Đ phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự cho ông Lê Thanh H2 số tiền là 375.940.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo Đ phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Nguyễn Ngọc T2 số tiền là 50.040.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Nguyễn Văn N3 số tiền là 194.751.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Trương Tuấn K1 số tiền là 1.302.800.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho ông Nguyễn Hữu K2 số tiền là 17.578.000 đồng.
  • + Buộc bị cáo P phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho bà Huỳnh Thị Thanh D số tiền là 239.366.000 đồng.
  • + Buộc ông Nguyễn Ngọc T2 nộp lại số tiền 200.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • + Buộc ông Nguyễn Văn N3 nộp lại số tiền 325.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • + Buộc ông Trương Tuấn K1 nộp lại số tiền 300.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • + Buộc bà Huỳnh Thị Thanh D nộp lại số tiền 180.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • + Buộc bị cáo Đ nộp lại số tiền 278.530.000 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 1.665.092.000 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax, có chứa sim số 0981.025.061 của bị cáo P dùng liên hệ cho vay lãi nặng, 01 điện thoại di động hiệu Sam sung có chứa sim số 0968.039.491 là điện thoại bị cáo Đ sử dụng cho vay lãi nặng.
  • Trả lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 454152 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/5/2023 cho bị cáo Võ Văn P.
  • Tiếp tục tạm giữ số tiền 269.000.000 đồng do người nhà bị cáo Đ đã nộp vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo giấy nộp tiền ngày 20/9/2024 của Ngân hàng N5 để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 112 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền vào tài khoản số [...] ngày 20/9/2024 tại kho bạc tỉnh Bình Thuận).

*Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Quốc Đ, Võ Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/02/2025). Quyền kháng cáo bản án này của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Quốc Đ + ĐP - Cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger