|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 68/2025/KDTM-ST Ngày: 30/6/2025. (V/v:Tranh chấp hợp đồng Tín dụng). |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Hoàng Đình Trung
- Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Ông Trần Đức Lưu
2/ Bà Ngô Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy- Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên..
Trong các ngày 27 và 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 63/2025/TLST-KDTM ngày 18/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2025/QĐXXST ngày 16/6/2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N1;
Trụ sở : 02 L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội;
Do Bà Trương Thị Thu Q và Ông Lý Bá T làm đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thanh H trên cơ sở Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc Ngân hàng N1. (Bà Q, Ông T có mặt).
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần N2;
Trụ sở : Số nhà B, ngõ B, ngách G hẻm A K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.
Do Bà Nguyễn Thị Hồng Đ làm đại diện theo giấy ủy quyền của ông Nguyễn Đức C - Giám đốc làm đại diện theo pháp luật Công ty Cổ phần N2.
(Bà Nguyễn Thị Hồng Đ có mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị L sinh 1956;
Nơi ở hiện tại: Số C Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Do Bà Nguyễn Thị Hồng Đ làm đại diện theo giấy ủy quyền lập ngày 13/6/2025 tại Phòng C1 – thành phố N số công chứng 4041, quyển số 01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD. (Bà Nguyễn Thị Hồng Đ có mặt).
Công ty TNHH Q1 ;
Trụ sở: số 20 hẻm A phố H, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội;
Do ông Nguyễn Văn H1 làm đại diện theo Hợp đồng ủy quyền số 2805A/2025/HĐUQ ký ngày 28/5/2025 của Bà Đoàn Ngọc H2 – Giám đốc Công ty TNHH Q1. (Ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là Ngân hàng N1 do Bà Trương Thị Thu Q và ông Lý Bá T làm đại diện có ý kiến: Đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình:
- Tuyên buộc Công ty Cổ phần N2 phải thanh toán toàn bộ tiền gốc, lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng đã ký và G nhận nợ kèm theo cụ thể: Dư nợ gốc và lãi vay phải trả tạm tính đến ngày 31/3/2025 (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) của Công ty Cổ phần N2 là: 66.265.474.903 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 43.266.682.528 đồng; Nợ lãi: 22.998.792.375 đồng, trong đó: Nợ lãi trong hạn: 17.253.794.676 đồng, N lãi quá hạn: 5.744.997.699 đồng.
- Tuyên buộc Công ty Cổ phần N2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ngày 28/02/2020 đã ký kết với A, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế Công ty Cổ phần N2 trả hết nợ gốc và lãi cho A.
- Tuyên nếu Công ty Cổ phần N2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi ra bản án/quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A Chi nhánh L4 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/03/2020, Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/02/2020 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- T1 nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A Chi nhánh L4 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty Cổ phần N2 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Căn cứ lý do chứng minh cho yêu cầu khởi kiện:
Ngày 28/02/2020, Bên cho vay Ngân hàng A – Chi nhánh H3 do Giang Trọng T2 – Giám đốc làm đại diện theo Quyết định ủy quyền số 2966/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng N1 và Bên vay Công ty Cổ phần N2 do ông Nguyễn Đức C – Giám đốc là đại diện cùng nhau ký kết hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 với nội dung: Hạn mức cấp tín dụng: 50.000.000.000 (Năm mươi tỷ đồng chẵn); Mục đích sử dụng vốn vay và thanh toán LC bằng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2020 – 2021. Lãi suất cho vay: theo từng giấy nhận nợ; Lãi suất nợ quá hạn: Tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay: Theo từng giấy nhận nợ cụ thể; Phương thức cho vay: Theo hạn mức tín dụng.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 ngày 28/02/2020, Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 đã giải ngân cho Công ty Cổ phần N2 số tiền 43.266.682.528 theo các giấy nhận nợ cụ thể.
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên;
- Ngày 16/3/2020, tại Văn phòng C2, Bên thế chấp: Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 (Bên B); Bên nhận thế chấp: Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Ông Giang Trọng T2 làm đại diện (Bên A) tiến hành ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là Bên được cấp tín dụng là Công ty Cổ phần N2 số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung:
Bên B đồng ý thế chấp cho Bên A tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03 (1), tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020.
2
Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 16/3/2020. Nghĩa vụ đảm bảo: Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sịnh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo.
Ngày 16/3/2020, Ngân hàng A – Chi nhánh H3 và bà Nguyễn Thị L đã ký đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm gửi Văn phòng Đ1 – quận N.
- Ngày 27/02/2020, tại Văn phòng C2, Bên thế chấp: Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 (Bên B); Bên nhận thế chấp: Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Ông Giang Trọng T2 làm đại diện (Bên A) tiến hành ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là Bên được cấp tín dụng là Công ty Cổ phần N2 số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung:
Bên B đồng ý thế chấp cho Bên A tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03, tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở đô thị và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở đô thị: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020.
Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 27/02/2020. Nghĩa vụ đảm bảo: Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sịnh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này ( bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo.
Ngày 27/02/2020, Ngân hàng A – Chi nhánh H3 và bà Nguyễn Thị L đã ký đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm gửi Văn phòng Đ1 – quận N.
Do bên vay là Công ty Cổ phần N2 đã vi phạm kế hoạch trả nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng. Vì vậy ngày 11/4/2025, Ngân hàng N1 đã làm đơn khởi kiện đối với Công ty Cổ phần N2 đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội để giải quyết.
Bị đơn: Công ty Cổ phần N2 do Do Bà Nguyễn Thị Hồng Đ làm đại diện theo ủy quyền có ý kiến:
Công nhận vào Ngày 28/02/2020, Bên cho vay Ngân hàng A – Chi nhánh H3 do Giang Trọng T2 – Giám đốc làm đại diện theo Quyết định ủy quyền số 2966/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng N1 và Bên vay Công ty Cổ phần N2 do ông Nguyễn Đức C – Giám đốc là đại diện cùng nhau ký kết hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 với nội dung: Hạn mức cấp tín dụng: 50.000.000.000 (Năm mươi tỷ đồng chẵn); Mục đích sử dụng vốn vay và thanh toán LC bằng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2020 – 2021. Lãi suất cho vay: theo từng giấy nhận nợ; Lãi suất nợ quá hạn: Tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay: Theo từng giấy nhận nợ cụ thể; Phương thức cho vay: Theo hạn mức tín dụng.
3
Thực hiện Hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 ngày 28/02/2020, Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 đã giải ngân cho Công ty Cổ phần N2 số tiền 43.266.682.528 theo các giấy nhận nợ cụ thể.
Xác nhận Công ty Cổ phần N2 còn nợ Ngân hàng N1 do Chi nhánh L4 làm đại diện theo Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ngày 28/02/2020 với số nợ là 66.265.474.903 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 43.266.682.528 đồng; Nợ lãi trong hạn: 17.253.794.676 đồng; Nợ lãi quá hạn: 5.744.997.699 đồng. (Số lãi tạm tính đến ngày 31/3/2025);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L sinh 1956 do Bà Nguyễn Thị Hồng Đ làm đại diện theo ủy quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay có ý kiến:
- Ngày 16/3/2020, tại Văn phòng C2, Bên thế chấp: Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 (Bên B); Bên nhận thế chấp: Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Ông Giang Trọng T2 làm đại diện (Bên A) tiến hành ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là Bên được cấp tín dụng là Công ty Cổ phần N2 số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung:
Bên B đồng ý thế chấp cho Bên A tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03 (1), tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020.
Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 16/3/2020. Nghĩa vụ đảm bảo: Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sịnh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo.
Công nhận ngày 16/3/2020, Ngân hàng A – Chi nhánh H3 và bà Nguyễn Thị L đã ký đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm gửi Văn phòng Đ1 – quận N.
- Ngày 27/02/2020, tại Văn phòng C2, Bên thế chấp: bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 (Bên B); Bên nhận thế chấp: Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Ông Giang Trọng T2 làm đại diện (Bên A) tiến hành ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là Bên được cấp tín dụng là Công ty Cổ phần N2 số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung:
Bên B đồng ý thế chấp cho Bên A tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03, tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở đô thị và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở đô thị: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020.
Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 27/02/2020. Nghĩa vụ đảm bảo: Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn
4
bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sịnh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này ( bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo.
Công nhận ngày 27/02/2020, Ngân hàng A – Chi nhánh H3 và bà Nguyễn Thị L đã ký đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm gửi Văn phòng Đ1 – quận N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Q1 tại văn bản trình bày ý kiến ngày 02/6/2025, Biên bản hòa giải ngày 16/6/2025, Đơn đề nghị ngày 24/6/2025 có ý kiến:
Bà Nguyễn Thị L là chủ sở hữu 02 thửa đất số 03 và thửa đất số 03 (1), tờ bản đồ số 00, có địa chỉ tại: phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Năm 2020, bà L đã thế chấp các tài sản trên tại Ngân hàng N1 (Ngân hàng A) để đảm bảo cho khoản vay của Công ty Cổ phần N2 và đã được Ngân hàng đồng ý, đồng thời ra thông báo về việc chấp thuận cho bên bảo đảm nộp tiền trả nợ thay để giải chấp tài sản bảo đảm.
Tháng 8/2022, bà Nguyễn Thị L có nguyện vọng chuyển nhượng hai tài sản nêu trên cho Công ty T5, tuy nhiên do tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng nên không đủ điều kiện để chuyển nhượng. Bà L trao đổi với Công ty T5 về việc sẽ tất toán khoản vay với Ngân hàng N1 - Chi nhánh H3, xóa đăng ký thế chấp đối tài sản trong vòng 30 ngày để thực hiện việc chuyển nhượng tài sản cho Công ty T5.
Do tin tưởng nên ngày 11/8/2022, Công ty T5 và bà Nguyễn Thị L đã ký kết Hợp đồng đặt cọc công chứng số 11548.2022/HĐĐC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3. Theo nội dung hợp đồng, Công ty T5 đặt cọc cho bà L số tiền 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng), trong thời hạn 30 ngày bà L phải tất toán khoản vay với ngân hàng, sau đó chuyển nhượng cho Công ty T&T hai tài sản nêu trên với giá chuyển nhượng là 32.500.000.000 đồng (Ba mươi hai tỷ năm trăm triệu đồng) và sẽ không thay đổi vì bất kỳ lý do gì.
Ngay sau khi hai bên ký kết hợp đồng, Công ty T5 đã chuyển khoản đầy đủ số tiền 3.500.000.000 đồng cho bà L vào số tài khoản 19029916913027 thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh Đ2 - Chủ tài khoản: bà Nguyễn Thị Hồng Đ, đồng thời bà Nguyễn Thị L cam kết đã nhận đủ số tiền đặt cọc từ phía Công ty T5 và bàn giao tài sản cho đặt cọc cho Công ty T5 quản lý.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc, không tất toán được khoản vay để thực hiện việc chuyển nhượng 02 tài sản đang thế chấp cho Công ty T5. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, bà L có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho Công ty T5 số tiền đã nhận cọc là 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng) và chịu phạt cọc số tiền 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng).
Ngoài ra, đến khi nhận được Thông báo về việc bổ sung người tham gia tố tụng, Công ty T5 mới được biết Công ty Cổ phần N2 và bà L còn đang bị Ngân hàng A khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử lý 02 tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi công nợ cho Ngân hàng.
Ngày 20/6/2025, Công ty T5 và Bà Nguyễn Thị L đã tự nguyện thỏa thuận và thống nhất phương án giải quyết Hợp đồng đặt cọc công chứng số 11548.2022/HĐĐC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 11/8/2022 Văn phòng C3 theo văn bản thỏa thuận hủy bỏ “Hợp đồng đặt cọc” ký ngày 20/6/2025 tại văn phòng C3. 2025/VBH;Quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 24/6/2025, Công ty T5 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và khẳng định: Công ty T5 và bà Nguyễn Thị L đã tự nguyện thỏa thuận và thống nhất phương án giải quyết Hợp đồng đặt cọc công chứng số 11548.2022/HĐĐC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 11/8/2022 Văn phòng C3; Mọi quyền lợi của Công ty T5 đã được giải quyết dứt điểm; Vì vậy đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội có quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện vụ án Kinh doanh thương mại của Ngân hàng N1 đối với Công ty Cổ phần N2 về hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp kinh
5
doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; vì vậy Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ngày 28/02/2020 phù hợp với các quy định tại Điều 386; Điều 398; Điều 401; Điều 402; Điều 403; Điều 404; Điều 405; Điều 406, của Bộ luật dân sự năm 2015 vì vậy có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ngày 28/02/2020; Người vay là Công ty Cổ phần N2 đã không thanh toán được hết nợ gốc và lãi phát sinh cho ngân hàng là vi phạm Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1: Đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội buộc Công ty Cổ phần N2 thanh toán cho Ngân hàng N1 66.265.474.903 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 43.266.682.528 đồng; Nợ lãi trong hạn: 17.253.794.676 đồng; Nợ lãi quá hạn: 5.744.997.699 đồng. (Số lãi tạm tính đến ngày 31/3/2025) là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/03/2020, Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/02/2020 phù hợp với các quy định tại tại Điều 386; Điều 398; Điều 401; Điều 402; Điều 403; Điều 404; Điều 405; Điều 406 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 163/NĐ_CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ; Vì vậy có hiệu lực thi hành đối với các bên; Do đó yêu cầu phát mại xử lý tài sản đảm bảo là có cơ sở được chấp nhận.
Bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về Tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền thụ lý và giải quyết: Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện vụ án Kinh doanh thương mại của Ngân hàng N1 đối với Công ty Cổ phần N2 về hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; vì vậy Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[1.2]. Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Hội đồng xét xử nhận thấy:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Q1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Q1;
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1: Đề nghị Tòa án: Buộc Công ty Cổ phần N2 phải thanh toán toàn bộ tiền gốc, lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng đã ký và giấy nhận nợ kèm theo cụ thể: Dư nợ gốc và lãi vay phải trả tạm tính đến ngày 31/3/2025 (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) của Công ty Cổ phần N2 là: 66.265.474.903 đồng (Sáu mươi sáu tỷ hai trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi tư nghìn chín trăm linh ba đồng). Trong đó: Nợ gốc:
6
43.266.682.528 đồng; Nợ lãi: 22.998.792.375 đồng, trong đó: Nợ lãi trong hạn: 17.253.794.676 đồng, N lãi quá hạn: 5.744.997.699 đồng.
[2.1]. Về quá trình ký kết hợp đồng:
Ngày 28/02/2020, Bên cho vay Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Giang Trọng T2 – Giám đốc làm đại diện theo Quyết định ủy quyền số 2966/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng N1 và Bên vay Công ty Cổ phần N2 do ông Nguyễn Đức C – Giám đốc là đại diện cùng nhau ký kết hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 với nội dung: Hạn mức cấp tín dụng: 50.000.000.000 (Năm mươi tỷ đồng chẵn); Mục đích sử dụng vốn vay và thanh toán LC bằng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2020 – 2021. Lãi suất cho vay: theo từng giấy nhận nợ; Lãi suất nợ quá hạn: Tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay: Theo từng giấy nhận nợ cụ thể; Phương thức cho vay: Theo hạn mức tín dụng.
Hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 ký ngày 28/02/2020 phù hợp với các quy định tại Điều 386; Điều 398; Điều 401; Điều 402; Điều 403; Điều 404; Điều 405; Điều 406, của Bộ luật dân sự năm 2015; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về: hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vì vậy có hiệu lực thi hành đối với các bên.
[2.2]. Về quá trình thực hiện hợp đồng:
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 ký ngày 28/02/2020, Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 đã giải ngân cho Công ty Cổ phần N2 theo các giấy nhận nợ sau:
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-202000491 ngày 12/5/2020 với số tiền: 10.000.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-202000779 ngày 11/8/2020 với số tiền: 3.300.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-202000794 ngày 17/8/2020 với số tiền: 2.879.068.828 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-202000996 ngày 13/10/2020 với số tiền: 4.000.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-2020001004 ngày 27/10/2020 với số tiền: 3.190.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-2020001018 ngày 29/10/2020 với số tiền: 3.300.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-2020001070 ngày 12/11/2020 với số tiền: 6.100.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-2020001098 ngày 19/11/2020 với số tiền: 6.700.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-2020001107 ngày 20/11/2020 với số tiền: 6.600.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-2020001113 ngày 25/11/2020 với số tiền: 500.000.000 đồng;
- Giấy nhận nợ số 1502-LDS-202100181 ngày 25/02/2021 với số tiền: 5.250.000.000 đồng;
Do Người vay là Công ty Cổ phần N2 đã không thanh toán được hết nợ gốc và lãi phát sinh cho ngân hàng là vi phạm Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện: Đề nghị Tòa án: Buộc Công ty Cổ phần N2 thanh toán cho Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện số tiền: 66.265.474.903 đồng Trong đó: Nợ gốc: 43.266.682.528 đồng; Nợ lãi trong hạn: 17.253.794.676 đồng, N lãi quá hạn: 5.744.997.699 đồng (Lãi tạm tính đến ngày 31/3/2025) theo Hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 ký ngày 28/02/2020 là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Công ty Cổ phần N2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa trong Hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-202000086 ký ngày 28/02/2020 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc;
[3]. Về Biện pháp đảm bảo và tài sản thế chấp:
Ngày 16/3/2020, tại Văn phòng C2, Bên thế chấp: Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 (Bên B); Bên nhận thế chấp: Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Ông Giang Trọng T2 làm đại diện (Bên A) tiến hành ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là Bên được cấp tín dụng là Công ty Cổ phần N2 số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung:
7
Bên B đồng ý thế chấp cho Bên A tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03 (1), tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020.
Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 16/3/2020. Nghĩa vụ đảm bảo: Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sịnh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo.
Ngày 16/3/2020, Ngân hàng A – Chi nhánh H3 và bà Nguyễn Thị L đã ký đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm gửi Văn phòng Đ1 – quận N.
- Ngày 27/02/2020, tại Văn phòng C2, Bên thế chấp: Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 (Bên B); Bên nhận thế chấp: Ngân hàng N1 – Chi nhánh H3 do Ông Giang Trọng T2 làm đại diện (Bên A) tiến hành ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là Bên được cấp tín dụng là Công ty Cổ phần N2 số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung:
Bên B đồng ý thế chấp cho Bên A tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03, tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở đô thị và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở đô thị: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020.
Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 27/02/2020. Nghĩa vụ đảm bảo: Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sịnh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này ( bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo.
Ngày 27/02/2020, Ngân hàng A – Chi nhánh H3 và bà Nguyễn Thị L đã ký đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm gửi Văn phòng Đ1 – quận N.
Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/03/2020, Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 744.2020, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/02/2020 phù hợp với các quy định tại Điều 386; Điều 398; Điều 401; Điều 402; Điều 403; Điều 404; Điều 405; Điều 406, của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo, vì vậy có hiệu lực thi hành đối với các bên;
+ Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 16/03/2020 có quy định: Điều 1.3.
8
Giá trị tài sản: “Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 đồng (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 16/3/2020”; Điều 2.1 Nghĩa vụ được đảm bảo: “Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sinh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo”; Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận: Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 đồng; Nghĩa vụ được đảm bảo (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương số tiền 13.500.000.000 đồng ( Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tài Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự);
+ Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 27/02/2020 có quy định: Điều 1.3 Giá trị tài sản “Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 đồng (Mười ba tỷ năm trăm triệu đồng) được xác định theo Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm số 01/BBXĐGTTS ngày 16/3/2020”; Điều 2.1. Nghĩa vụ được đảm bảo: “Bên B tự nguyện đem tài sản trên thế chấp cho Bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần N2 tại các hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh, mở L2 và các văn bản khác được ký giữa Bên A và Bên được cấp tín dụng phát sinh trước, trong và sau khi ký hợp đồng thế chấp này (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nêu có) tương đương với giá trị tài sản đảm bảo”;
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận: Giá trị tài sản bảo đảm là: 13.500.000.000 đồng; Nghĩa vụ được đảm bảo (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan nếu có) tương đương số tiền 13.500.000.000 đồng ( Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tài Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự);
Do Công ty Cổ phần N2 không thanh toán hết nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng N1; Vì vậy trong trường hợp Công ty Cổ phần N2 không thanh toán số nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại các tài sản sau:
- + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03 (1), tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1; Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020 để thu hồi số tiền 13.500.000.000 đồng.
- + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03, tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở đô thị và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở đô thị: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào số cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020 để thu hồi số tiền 13.500.000.000 đồng.
[5]. Về tài sản trên quyền sử dụng đất ở thế chấp:
9
[5.1]. Theo biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 19/5/2025 và Sơ đồ trích đo địa chính thửa đất do Công ty CP P tiến hành lập ngày 19/5/2025 thể hiện: Tài sản trên Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03 (1), tờ bản đồ số 00, địa chỉ phường T, quận N, TP . theo theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020 gồm: Công trình trên đất nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 là tài sản của Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 không phải là tài sản thể chấp, do không đăng ký giao dịch đảm bảo, vi phạm điểm b,c khoản 1 Điều 4 của Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016 của Bộ Tư pháp – Bộ T6 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và vi phạm điểm a khoản 1 điều 118; Khoản 1 Điều 122 của Luật nhà ở năm 2014 do Tài sản trên đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu và chưa được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền;
Căn cứ quy định tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ_CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung nghị định số 163/NĐ_CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo thì: số Tài sản trên đất ở là : Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 sẽ được xử lý phát mại cùng với việc phát mại Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03 (1), tờ bản đồ số 00, địa chỉ phường T, quận N, TP. theo theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020; Số tiền giá trị của: Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2; sau khi xử lý phát mại sẽ được thanh toán trả cho Bà Nguyễn Thị L.
[5.2]. Theo biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 19/5/2025 và Sơ đồ trích đo địa chính thửa đất do Công ty CP P tiến hành lập ngày 19/5/2025 thể hiện: Tài sản trên Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 00, địa chỉ phường T, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020 gồm: Công trình trên đất nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m2, diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 là tài sản của Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1956 không phải là tài sản thể chấp, do không đăng ký giao dịch đảm bảo, vi phạm điểm b,c khoản 1 Điều 4 của Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016 của Bộ Tư pháp – Bộ T6 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và vi phạm điểm a khoản 1 điều 118; Khoản 1 Điều 122 của Luật nhà ở năm 2014 do Tài sản trên đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu ở và chưa được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền;
Căn cứ quy định tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ_CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung nghị định số 163/NĐ_CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo thì: số Tài sản trên đất ở là : Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m2 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 sẽ được xử lý phát mại cùng với việc phát mại Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 00, địa chỉ phường T, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào số cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020; Số tiền giá trị của: Nhà Bê tông 05 tầng
10
diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2; sau khi xử lý phát mại sẽ được thanh toán trả cho Bà Nguyễn Thị L.
[6]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận vì vậy bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 386; Điều 398; Điều 401; Điều 402; Điều 403; Điều 404; Điều 405; Điều 406, của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về: hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Căn cứ Nghị định số 163/NĐ_CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ Về Giao dịch đảm bảo;
Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ_CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung nghị định số 163/NĐ_CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016 của Bộ Tư pháp – Bộ T6 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 118; Khoản 1 Điều 122 của Luật nhà ở năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; khoản 1 Mục II danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện đối với Công ty Cổ phần N2 về Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ký ngày 28/02/2020;
- Buộc Công ty Cổ phần N2 phải thanh toán cho Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện theo Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ký ngày 28/02/2020 là 66.265.474.903 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 43.266.682.528 đồng; Nợ lãi trong hạn: 17.253.794.676 đồng, N lãi quá hạn: 5.744.997.699 đồng (Số lãi tạm tính đến ngày 31/3/2025).
- Công ty Cổ phần N2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi xuất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng số 1502LAV202000086 ký ngày 28/02/2020 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi thi hành án xong hết khoản nợ gốc;
- Trong trường hợp Công ty Cổ phần N2 không thanh toán hết số nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý phát mại các tài sản sau:
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03 (1), tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1;
11
-
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 03, tờ bản đồ số: 00, diện tích: 106.5 m², địa chỉ: phường T, quận N, thành phố Hà Nội; hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: 100 m² đất ở đô thị và 6.5 m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: đất ở đô thị: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến hết ngày 01/10/2052 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020 để thu hồi số tiền 13.500.000.000 đồng.
- Đối với Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích, mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 sẽ được xử lý phát mại cùng với việc phát mại Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03 (1), tờ bản đồ số 00, địa chỉ phường T, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020; Số tiền giá trị của: Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 sau khi xử lý phát mại sẽ được thanh toán trả cho Bà Nguyễn Thị L.
- Đối với: Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m2 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2 sẽ được xử lý phát mại cùng với việc phát mại Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 00, địa chỉ phường T, quận N, TP . theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020; Số tiền giá trị của: Nhà Bê tông 05 tầng diện tích xây dựng 106,5 m2, tổng diện tích sàn xây dựng : 497,1 m1 diện tích mái tôn trên tầng 5 là 35,4 m2; sau khi xử lý phát mại sẽ được thanh toán trả cho Bà Nguyễn Thị L.
- Trong trường hợp Bà Nguyễn Thị L thanh toán cho N1 do chi nhánh L4 làm đại diện số tiền 13.500.000.000 đồng (Mười ba tỷ, năm trăm triệu đồng) theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 1046.2020, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 16/03/2020 thì Nông nghiệp N1 do chi nhánh L4 làm đại diện có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp và trả lại bản gốc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 845847, số QĐ: 5476/ QĐ-UBND vào sổ GCN số CH 00354 do UBND quận N, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận N ngày 12/3/2020 cho Bà Nguyễn Thị L.
- Trong trường hợp Bà Nguyễn Thị Liên thanh T4 cho N1 do chi nhánh L4 làm đại diện số tiền 13.500.000.000 đồng (Mười ba tỷ, năm trăm triệu đồng) theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 744.2020, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 27/02/2020 thì N1 do chi nhánh L4 làm đại diện có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp và trả lại bản gốc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 192036, số vào sổ cấp GCN: CS – NTL: 09943 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 14/3/2018 mang tên bà Nguyễn Thị L3. Đăng ký sang tên bà Nguyễn Thị L tại Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận N ngày 24/02/2020 cho Bà Nguyễn Thị L.
- Khi tiến hành xử lý phát mại các tài sản được nêu tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 thì những người đang sinh sống phải có trách nhiệm di dời tài sản cá nhân ra khỏi tài sản nêu trên;
- Trong trường hợp sau khi tiến hành xử lý tài sản thế chấp hoặc áp dụng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật đối với tài sản thế chấp nêu trên mà không thu đủ số nợ của Công ty Cổ phần N2 theo Hợp đồng cấp tín dụng số
12
1502LAV202000086 ký ngày 28/02/2020 thì Ngân hàng N1 do Chi nhánh L4 làm đại diện có quyền đề nghị Các Cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xử lý các tài sản của Công ty Cổ phần N2 theo quy định của pháp luật để thu hồi số nợ còn thiếu.Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
11 Về án phí: Công ty Cổ phần N2 phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 174.265.000 đồng (Một trăm bảy mươi tư triệu, hai trăm sáu mươi năm nghìn đồng).Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm; Vì vậy Ngân hàng N1 do chi nhánh L4 làm đại diện được nhận lại số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp là: 87.000.000 đồng ( Tám mươi bảy triệu đồng) theo biên lại nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031418 ngày 18/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, Có mặt Đại diện hợp pháp của Nguyên đơn; Có mặt Đại diện hợp pháp của Bị đơn; Có mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bà Nguyễn Thị L do Bà Nguyễn Thị Hồng Đ làm đại diện theo ủy quyền; Vắng mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Q1.
12. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Q1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Trung |
13
14
Bản án số 68/2025/KDTM-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 68/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
