Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 68/2025/HSST

Ngày 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành

2. Ông Trần Xuân Viện

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân

dân thành phố Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ X, Kiểm sát viên.

Ngày 27/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/HSST ngày 07/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1978

Nơi cư trú tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 02/12; nghề nghiệp: Không. Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952, con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1952. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: 07

+ Tại bản án số 134/HSST ngày 09/7/1999, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và Bản án số 198/HSPT ngày 20/8/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm ngày 23/8/2007.

+ Tại bản án số 15/2006/HSST ngày 26/5/2006, Tòa án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản. Ra trại ngày 25/12/2007. Đã nộp án phí ngày 13/12/2013.

+ Tại bản án số 253/2010/HSST ngày 06/9/2010, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 16/9/2011. Đã nộp án phí ngày 15/12/2012.

+ Tại bản án số 91/2021/HSST ngày 05/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 25/01/2022. Đã nộp án phí ngày 11/6/2021

+ Tại Quyết định số 28 ngày 26/4/2005, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định giáo dục tại xã, phường đối với người vi phạm pháp luật về hành vi “trộm cắp tài sản” thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 26/7/2005.

+ Tại Quyết định số 09 ngày 14/02/2006, Công an phường P, thị xã S, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính số tiền 400.000 nghìn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Tại Quyết định số 130/2019/QĐ-TA ngày 12/4/2019, TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng. Chấp hành xong ngày 22/9/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 02/01/2025 đến nay. (Có mặt);

Bị hại: Anh Nguyễn Gia P, sinh năm 1993. Nơi cư trú tổ dân phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người làm chứng: Chị Ma Thị T1, sinh năm 1994. Nơi cư trú tổ dân phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 02/01/2025, S đi bộ lang thang vào trong Bệnh viện T2 để xem có ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp mang đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Sứng đi lang thang trong bệnh viện đi bộ vào trong khoa nhi, sau đó đi bộ lên tầng 2, S đi dọc hành lang thì quan sát thấy phòng cấp cứu số 04 đang mở cửa. Thấy trong phòng mọi người đang ngủ say, S đi lên phía đầu giường nơi chị Ma Thị T1, sinh năm 1994; cư trú tổ dân phố S, Thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và chồng là anh Nguyễn Gia P, sinh năm 1993, nơi cư trú tổ dân phố S, Thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang trông con là Nguyễn Gia H, sinh năm 2024 đang điều trị tại khoa N bệnh viện T2. Anh P để 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng ở trên mặt bàn (tủ inox để đồ bệnh nhân) đang cắm sạc cạnh đầu giường chị T1 nằm ngủ. Do anh P và chị T1 đã ngủ say nên S rút dây sạc rồi cầm lấy chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max của anh P cầm ở tay phải. Sau đó, S nhanh chóng đi ra khỏi phòng rồi đi bộ ra khu vực cổng sau bệnh viện, đi bộ đến khu vực đối diện Vincom T thuộc tổ A phường H, thành phố T để tìm nơi bán điện thoại. Anh P ngủ dậy phát hiện bị mất trộm điện thoại nên sử dụng điện thoại của vợ mở ứng dụng tìm điện thoại của I thì thấy điện thoại bị trộm cắp đang phát vị trí ở khu vực đối diện Vincom T. Anh P liền đi theo định vị ra khu vực nêu trên. Khi đến nơi, A P sử dụng điện thoại của vợ gọi vào số điện thoại của mình thì thấy điện thoại phát sáng nhấp nháy. Khi đó S phát hiện có cuộc gọi đến làm điện thoại phát sáng nhấp nháy, do lo sợ bị phát hiện hành vi trộm cắp của mình nên S vứt điện thoại vào thùng rác cạnh đó định bỏ đi thì bị anh P cùng người dân giữ lại và mời lực lượng Công an đến làm việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận giá trị 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng, IMEI1: 356163578578904 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá ngày 02/01/2025 là 16.500.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Gia P quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Do tài sản đã được đã được trả lại nên anh P không có yêu cầu đề nghị gì với S. Phần dân sự đã giải quyết xong

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, lời khai của S phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm, vị trí và đặc điểm của tài sản bị trộm cắp cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKSNDTPTN ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề xuất xử phạt Nguyễn Văn S từ 15 đến 18 tháng tù, không phạt bổ sung đối với bị cáo

- Phần dân sự: Anh Nguyễn Gia P đã nhận lại tài sản không yêu cầu đề nghị gì đối bị cáo S; phần dân sự đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

- Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng, IMEI1: 356163578578904 (đã qua sử dụng), quá trình điều tra xác định là tài sản của anh P nên Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh P quản lý sử dụng.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước;

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, Kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 02/01/2025, tại phòng cấp cứu số 04 khoa N Bệnh viện T2, Nguyễn Văn S đã thực hiện hàn vi trộm cắp của anh Nguyễn Gia P 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng trị giá 16.500.000 đồng.

[3] Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ có giá trị là 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm nghìn đồng) hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật

Nội dung điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Xét tính chất, của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần có mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân rất xấu, bị cáo đã từng bị xét xử 04 lần về tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Huỷ hoại tài sản", 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, năm 2005 bị Ủy ban nhân dân dân phường T, thành phố T Quyết định giáo dục tại xã phường với thời hạn 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản; năm 2019 bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã từng bị xét xử bằng 04 bản án; 03 lần bị xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng đạo đức bản thân, ham chơi, lười lao động, thích hưởng thụ, hám lời bất chính, tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên cần có hình phạt tương xứng với tội trạng của bị cáo gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng, IMEI1: 356163578578904, hiện tài sản này đã được thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Gia P quản lý, sử dụng

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, phần dân sự đã giải quyết xong.

[8] Về hình phạt bổ sung và án phí:

- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung, tuy nhiên quá trình điều tra và xét xử bị cáo khai không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn S 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong

3. Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu vàng, IMEI1: 356163578578904, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Gia H. Anh Nguyễn Gia H đã nhận lại tài sản

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKSND thành phố TN;
  • - Công an thành phố TN;
  • - Chi cục THADSTPTN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; bị hại.
  • - Lưu HS; lưu BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger