| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2025/HSST Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Thanh Xuân
- Bà Lưu Thị Hà
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Hùng– Kiểm sát viên
Ngày 25 và 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021, ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972. HKTT và chỗ ở : Tổ B, phường V, quận L, Thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 10/12. Nghề nghiệp: Bảo vệ. Con ông Nguyễn Văn T (đã chết). Con bà Âu Thị L (đã chết). Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ sáu. Chồng Ngô Quang T1 sinh năm 1973. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số [...] lập ngày 20/11/2024 tại Công an quận L và lý lịch bị can thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân:
- - Ngày 30/9/2021, Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 12 (mười hai) tháng tù. Bản án số 232/2021/HSST ngày 30/9/2021. Nguyễn Thị H đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 0588 ngày 23/03/2022.
- - Ngày 17/01/2022 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 16 (mười sáu) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tai bản án số 232/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân quân Long Biên, Hà Nội xử phạt Nguyễn Thị H 17 (Mười bảy) năm tù. Nguyễn Thị H chưa nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, 113.062.500đ án phí dân sự sơ thẩm và chưa bồi thường số tiền 5.062.500.000₫ cho bà Đoàn Thị Phương Đ.
Bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S1 – Bộ C. Ngày 25/12/2024, Cơ quan quản lý THAHS – Bộ C ra Lệnh trích xuất phạm nhân đối với Nguyễn Thị H về Nhà Tạm giữ - Công an quận L để phục vụ điều tra.
( Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).
- Người bị hại: Bà Hoàng Thị T2, sinhh năm 1968. Trú tại: Tổ A, phường C, quận L, Thành phố Hà Nội. ( xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng tháng 4/2019, Nguyễn Thị H làm bảo vệ cùng với ông Hoàng Văn H1 (sinh năm: 1966, HKTT: tổ A, phường C, L, Hà Nội) tại TTTM A thuộc phường L, L, Hà Nội. Thông qua ông H1 thì H quen biết với vợ ông H1 là bà Hoàng Thị T3 (sinh năm: 1968, HKTT: tổ A, phường C, L, Hà Nội). Trong quá trình làm việc H và ông H1 hay nói chuyện, chia sẻ về hoàn cảnh gia đình của nhau. Tháng 7/2020, ông H1 xin nghỉ làm bảo vệ tại TTTM A để chữa bệnh phổi. Đến cuối tháng 9/2020 ông H1 phải nằm điều trị tại bệnh viện P1 có địa chỉ tại phường T, H, Hà Nội. Biết được việc này nên H có hẹn gặp bà T3 tại TTTM A để nói chuyện. Tại đây, H có nói đất nhà bà T3 giống nhà H trước đây và nói sợ ông H1 không qua khỏi thì nhà chồng ông H1 sẽ lấy lại đất, bà T3 sẽ không có chỗ ở. Đồng thời, H bảo bà T3 làm thủ tục đăng kí di biến động chủ sở hữu đất từ tên 2 chủ sang thành tên 1 chủ, cụ thể là đang tên vợ chồng ông Hoàng Văn H1 và bà Hoàng Thị T3 sang tên một mình bà T3 thì H nhờ người làm giúp. Sau khi bà T3 đồng ý H có điện thoại cho Nguyễn Anh T4, Nguyễn Văn T5 là nhân viên Văn phòng Đ1 - chi nhánh quận L để làm giúp thì T4, T5 báo giá cho H là chi phí hết 27.000.000₫ (Hai mươi bảy triệu đồng). (Quá trình xác minh xác định không có ai tên T4 và T5 công tác tại Văn phòng Đ1 - chi nhánh quận L) Hào báo lại với bà T3 chi phí nêu trên và bà T3 đã đồng ý, đồng thời bà T3 đã đưa cho H những giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 495077 ngày 15/9/2005, thửa đất số: 25-1, tờ bản đồ số: 20, địa chỉ: tổ A phường C, L, Hà Nội, diện tích: 184m² mang tên bà Hoàng Thị T3 và ông Hoàng Văn H1; Sổ hộ khẩu; CCCD/CMND của bà T3 và ông H1; số tiền 27.000.000₫ (Hai mươi bảy triệu đồng) tiền mặt. H nhận tiền và các giấy tờ trên tại cổng số 6 Trung tâm thương mại A thuộc phường T, L, Hà Nội. Sau khi nhận tiền và giấy tờ xong thì H mang số tiền 27.000.000₫ (Hai bảy triệu đồng) đến cột đèn N24/6 đường nhánh vào khu liên cơ UBND quận L để đưa cho T4, T5. Ngày 23/11/2020, H đưa bà T3 đến văn phòng C1 ở số A phường T, L, Hà Nội đưa các giấy tờ trên cho anh Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1976, nơi thường trú: Tổ D phường C, L, Hà Nội để nhờ anh L1 làm thủ tục đăng ký di biến động quyền sử dụng đất cho bà T3. H khai mấy ngày sau T4, T5 yêu cầu H đưa thêm số tiền là 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng) để làm thủ tục thì H lại tiếp tục yêu cầu bà T3 đưa số tiền trên. Khi bà T3 đưa cho H số tiền 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng) H lại tiếp tục mang đến đưa cho T4, T5 cũng tại vị trí lần trước. Sau này, việc làm thủ tục đăng kí di biến động chủ sở hữu từ tên ông H1, bà T3 sang một mình tên bà T3 đã được anh L1 làm thành công cho bà T3. Sau khi H đưa bà T3 đến gặp ông L1 làm thủ tục đối với mảnh đất nêu trên, để tạo lòng tin với bà T3, H tiếp tục gọi điện cho bà T3 nói với bà T3 là H có khả năng cuyển quyền sở hữu tại thửa đất số 19-2 tờ bản đồ số 20, diện tích 63.0m² từ mẹ chồng bà T3 là bà Trần Thị T6 (sinh năm: 1942, HKTT: tổ A, T, phường C, L, Hà Nội) sang bà T3 mà không cần bà T6 phải ký tên, không cần đưa sổ đỏ gốc, chỉ cần mượn CCCD của bà Trần Thị T6 là được và chi phí hết 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). H nói nếu bà T3 không làm nhanh thì anh chị em trong nhà bà T3 sẽ chiếm hết đất của bà T6 còn nhà bà T3
sẽ không có phần. Bà T3 suy nghĩ một thời gian rồi đồng ý. Mấy ngày sau, bà T3 có đưa trực tiếp cho H số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Tiếp đó, H lại nói cần thêm kinh phí để làm thủ tục nên bà T3 tiếp tục đưa trực tiếp cho H lần thứ 2 số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng), lần thứ 3 số tiền 45.000.000₫ (Bốn mươi lăm triệu đồng), lần thứ 4 số tiền 65.000.000₫ (Sáu mươi lăm triệu đồng). Lần thứ 5 vào ngày 21/12/2020, H nhận trực tiếp số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) của ông Nguyễn Văn L1 tại văn phòng Luật Việt ở số A phường T, L, Hà Nội. Số tiền này là tiền bà T3 vay ông L1. Lần thứ 6 vào ngày 22/12/2020, H nhận số tiền 65.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) của Bà T3. Số tiền này bà T3 cũng vay của ông L1.Tổng cộng H đã nhận tổng số tiền 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) của bà T3 qua những lần trên tại cổng số 6 và số S TTTM Aeon L thuộc phường T, L, Hà Nội. H khai: Sau khi nhận tiền qua những lần trên H đều gọi điện cho T4, T5 đến cổng số 6, số I TTTM Aeon L thuộc phường T để đưa cho T4, T5 với mục đích là nhờ T4, T5 làm giúp nhưng H không có tài liệu gì về việc chuyển tiền và nhờ T4, T5 giúp bà T3 thủ tục nêu trên. H sử dụng số điện thoại 0834.776.xxx để liên hệ với Tuấn T7, còn T4, T7 sử dụng số điện thoại 0834.776.xxx (Quá trình điều tra xác định số điện thoại này là của anh Vũ Hoàng S. Anh S không quen biết ai tên Nguyễn Thị H). Khi bà T3 biết chuyện, H viết 01 (một) bản cam kết và 02 (hai) giấy cam kết với nội dung là: H xác nhận đã nhận tổng số tiền 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) của bà T3 để làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà Trần Thị T6 sang tên bà Hoàng Thị T3 tại thửa đất số 19-2, tờ bản đồ số 20 nhưng H không làm được, H hứa sẽ trả lại bà T3 số tiền 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) nhưng đến nay H không có khả năng trả cho bà T3 do đã tiêu sài cá nhân hết. Bà T3 trình báo cơ quan công an.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
- - 01(một) Bản cam kết (gồm 4 tờ giấy A4) có chữ kí và đề tên Nguyễn Thị H;
- - 01(một) Giấy cam kết (gồm 2 tờ giấy A4) có chữ kí và đề tên Nguyễn Thị H;
- - 01(một) Giấy cam kết (gồm 1 tờ giấy A4) có chữ kí và tên người làm chứng “Đặng Đình H2” và người viết Nguyễn Thị H;
- - 01(một) Giấy vay tiền đề ngày 21/12/2020;
- - 01 (một) Giấy vay tiền đề ngày 22/12/2020.
Quá trình điều tra xác định:
Tại Công văn số 9483/VPĐK-CNLB ngày 03/6/2021 của Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận L cung cấp:
- Thửa đất số 19-2, tờ bản đồ số 20, diện tích 63.0m2, địa chỉ tại T, phường C, quận L đã được UBND quận L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 428975 cho bà Trần Thị T6. Đến thời điểm hiện tại, Chi nhánh quận L chưa tiếp nhận thực hiện hồ sơ đăng ký biến động nào đối với thửa đất tại giấy chứng nhận nêu trên.
- Thửa đất số 25-1, tờ bản đồ số 20, diện tích 184m2, tại địa chỉ tại tổ A, phường C, quận L đã được UBND quận L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 495077 cho ông Hoàng Văn H1 và bà Hoàng Thị T3.
- - Về quy trình thực hiện đăng ký biến động: Hiện tại thủ tục đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất được thực hiện theo Quyết định số 3542/QĐ-UBND ngày 12/6/2017 và Quyết định số 3632/QĐ-UBND ngày 18/8/2020 của UBND thành phố H về việc công bố danh mục thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- - Đối với việc thực hiện hồ sơ đăng ký biến động thửa đất 25-1, tờ bản đồ 20 như sau:
- + Ngày 01/12/2020, chi nhánh quận L tiếp nhận hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất của bà Hoàng Thị T3 (Hồ sơ do ông Vũ Trung K nộp theo giấy ủy quyền số 889.2020 do Văn phòng C2 lập ngày 23/11/2020) đối với thửa đất tại giấy chứng nhận có thông tin nêu trên bên tặng cho là ông Hoàng Văn H1, bên nhận tặng cho là bà Hoàng Thị T3 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2104.2020/HĐCT do Văn phòng C2 lập ngày 23/11/2020. Hạn trả kết quả là ngày 18/12/2020.
- + Ngày 15/12/2020, Văn phòng Đ1 chi nhánh quận L thẩm định hồ sơ đủ điều kiện chuyển quyền và xác nhận người được nhận tặng cho tại trang 4 giấy chứng nhận đã cấp.
- + Ngày 30/12/2020, công dân nhận kết quả tại bộ phận một cửa của Chi nhánh.
- + Cán bộ thụ lý đối với hồ 5 sơ nêu trên là: Ông Đinh Ngọc P và bà Nguyễn Thị Thu T8
Từ tháng 10/2020, chi nhánh Văn phòng Đ1 quận L không có lãnh đạo, nhân viên nào tên Nguyễn Văn T5 (hoặc Nguyễn Xuân T9) và Nguyễn Anh T4 (hoặc Nguyễn Văn T10) công tác tại đơn vị.
Tại công văn số 3211/CNLB ngày 25/02/2022 của Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận L cung cấp:
- - Từ tháng 6/2021 đến nay, Văn phòng Đ1 chi nhánh quận L chưa tiếp nhận giải quyết hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính nào khác liên quan đến thửa đất số 19-2, tờ bản đồ số 20, địa chỉ T, phường C, quận L, Hà Nội.
Tại bản kết luận giám định số: 5529/C09-P5 ngày 01/10/2021 của V - Bộ C kết luận:
- - Chữ ký, chữ viết đứng tên Đặng Đình H2 dưới mục “người làm chứng” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với cữ ký, chữ viết của Đặng Đình H2 trên các mẫu so sánh ký hiệu M3,M4 do cùng một người ký và viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1,A2,A3 (trừ chữ ký, chứ viết đã kết luận tại mục 5.1) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký và viết ra.
Tại bản kết luận giám định số: 6175/C09-P5 ngày 29/10/2021 của V - Bộ C kết luận:
- - Chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Thị D dưới mục “Bên cho vay (Bên A) trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết của Lê Thị D trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết đứng tên Hoàng Thị T3 dưới mục “Bên vay (Bên B)” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị T3 trên các mẫu so sánh ký hiệu M3, M4 do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị H dưới mục “Người làm chứng” trên các mẫu cần giám định ký hiệu Al so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H trên các mẫu so sánh ký hiệu M5, M6 do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Văn L1 dưới mục “Người làm chứng” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn L1 trên mẫu so sánh ký hiệu M7 do cùng một người ký, viết ra.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm nhân dân quận L sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời nhận tội và đề nghị như sau:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 điều 174, điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 và Điều 48 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị H từ 09 năm đến 10 năm. Tổng hợp hình phạt của bán án số 27/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cả hai bản án từ 26 năm đến 27 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2021.
Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường trả cho bà Hoàng Thị T3 320.000.000 đồng.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo H sau khi nghe quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối nhằm mục đích lấy tiền của bà T6 của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận:
Do muốn có tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên khoảng cuối năm 2020, Bị cáo Nguyễn Thị H biết bà T3 có nhu cầu làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên H đã nảy sinh ý định chiếm đạt tài sản của bà Hoàng Thị T3. Để tạo lòng tin, H đưa ra thông tin có thể làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên cụ Trần Thị T6 sang tên bà Hoàng Thị T3 tại thửa đất số 19-2, tờ bản đồ số 20, diện tích 63,0m², địa chỉ tại T, phường C, quận L, Hà Nội mà không cần bà T6 ký tên khiến cho bà T3 tin là thật và chuyển tổng cộng 6 lần tiền với tổng số tiền là 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng). Hành vi của Nguyễn Thị H đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a, Khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy bố bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội.
[3].Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo hiện đang chấp hành 02 bản án. Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi phạm tội lần này của bị cáo tuy không phải là tình tiết tăng nặng hay tái phạm nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.
Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4].Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện đang hành án, không có thu nhập, do vậy thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về dân sự: Người bị hại là bà Hoàng Thị T3 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 320.000.000 (ba trăm hai mươi triệu đồng). Do vậy thấy cần buộc bị cáo phải trả cho bà T3 số tiền này.
[6]. Các vấn đề khác:
Đối với hành vi Nguyễn Thị H nhận số tiền 63.000.000 đồng của bà T3 để làm thủ tục đăng ký di biến động từ 2 chủ sở hữu ông H1 và bà T3 sang tên một mình bà T3 tại thửa đất số 25-1 tờ bản đồ số 20, địa chỉ tổ A phường C, quận L, Thành phố Hà Nội, diện tích: 184m² thì bị cáo đã nhờ anh Nguyễn Văn L1 làm thành công và anh L1 đã trả lại giấy chứng nhận cho bà T3. Đồng thời, bà T3 cho biết số tiền này bà T3 chuyển cho H để cảm ơn và làm chi phí cho H đi lại vì H đã có công giới thiệu, nhờ anh L1 làm giúp bà T3. Do đó, Hành vi trên của Nguyễn Thị H không cầu thành tội phạm. Bà T3 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này.
Đối với Nguyễn Anh T4, Nguyễn Văn T5: H khai làm ở Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận L đã nhận tổng số tiền 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) của H. H khai sử dụng số điện thoại 0834.776.xxx còn T4 và T5 và sử dụng số điện thoại 0961.142.xxx. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Văn phòng Đ1 - chi nhánh quận L kết quả không có nhân viên nào tên Nguyễn Anh T4, Nguyễn Văn T5 làm tại đây. Số thuê bao 0834776585, tập đoàn B cung cấp chủ thuê bao là Lê Thanh H3. Số điện thoại đã bị hủy từ ngày 29/3/2024. Trong thời gian từ ngày 01/12/2021 đến ngày 29/3/2024 không phát sinh cuộc gọi đi, gọi đến...Số liệu chi tiết cuộc gọi, tin nhắn từ 01/10/2020 đến 30/11/2021 không còn lưu trữ trong cơ sở dữ liệu tra cứu. Anh Lê Thanh H3 khai từ trước đến nay không đăng ký, không sử dụng và cũng không đăng ký hộ ai số thuê bao 0834776585. Còn số thuê bao 0961142385, tập đoàn V1 (V2) cung cấp chủ thuê bao là anh Vũ Hoàng S. T3 trạnh thuê bao đã chấm dứt hợp đồng. Từ tháng 3/2019 đến 18/11/2010 và từ 19/6/2021 đến 24/4/2024 thuê bảo không đăng ký sử dụng nên không có các lịch sử thông tin về lịch sử cuộc gọi đi, gọi đến, tín nhắn. Bị cáo khai vào tháng 11,12/2020 bị cáo nhiều lần liên hệ với T4, T5 qua số thuê bao 0961142385 nhưng thời gian đó anh S đang sử dụng số thuê bao 0961142385. Anh S không cho ai mượn hay sử dụng chung số thuê bao trên và anh S không quen biết Nguyễn Thị H. Vì vậy, H khai chuyển số tiền 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) cho T4, T5 và liên hệ qua số thuê bao 0961142385 để nhờ T4 và T5 làm thủ tục giúp bà T3 là không có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 và Điều 48 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 135, 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 17 (mười bảy) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 25 (hai mươi lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2021.
Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường trả cho bà Hoàng Thị T3 số tiền 320.000.000 đồng.
- - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự (10%/năm) tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Thu Nga |
Bản án số 68/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo
