|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày 27-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Ngọc Tân |
| Bà Vũ Thị Minh Nguyệt |
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 09/7/1993, tại Hải Phòng. ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị N, bị cáo có vợ là Đỗ Thị S, có 02 con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 29/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Ông Ninh Văn D – Luật sư Văn phòng Luật sư D - T, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 26/02/2024, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố H kết hợp với lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa hàng tạp hóa “Tiến Nhạn” ở thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng phát hiện Trần Văn T điều khiển xe máy Honda SH BKS: 15C1 - 390.60 có biểu hiện hoạt động phạm tội về ma túy, đã tiến hành kiểm tra và thu giữ của T: Tại túi quần phía trước bên trái có 01 gói giấy bản màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 05x10 cm đựng 05 viên nén hình hộp chữ nhật màu hồng một mặt có in logo chữ Hermes (mẫu QT1) và 02 túi nilon kích thước mỗi túi khoảng 02x02cm bên trong các túi đều đựng chất tinh thể màu trắng (mẫu QT2), 01 xe máy nhãn hiệu SH BKS: 15C1 - 390.60, 01 điện thoại di động Iphone màu vàng đã qua sử dụng và số tiền 1.900.000đồng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T tại thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ:
Tại khe đầu giường ngủ trong phòng ngủ của T 01 túi giấy, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 05x10cm trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX1), 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 05x10cm trong chứa 09 viên nén hình chữ nhật màu hồng có in logo Hermes (Mẫu KX2); 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 04 cm một đầu cắt vát và một đầu hàn kín, 01 cân điện tử màu bạc kích thước khoảng 05x12x01cm và nhiều vỏ túi ni lon kích thước khác nhau.
Tại ngăn kéo tủ quần áo trong phòng ngủ của Trần Văn T có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 08x10 cm chứa tinh thể màu trắng (Mẫu KX3).
T2 tại khe giường ngủ 01 cân điện tử màu đen kích thước khoảng 08x04x01 cm.
Tại tủ giầy 01 túi ni lon màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 05x10 cm chứa tinh thể màu trắng (Mẫu KX 4); 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 05x10cm trong chứa 70 viên nén hình chữ nhật màu hồng có in logo HERMES (KX5).
Tại Kết luận số 212/KL-KHHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Các viên nén thu giữ của T (mẫu QT1, KX2, KX5) là ma túy, có tổng khối lượng 36,34 gam, loại MDMA (khối lượng trung bình 01 viên nén= 0,43 gam MDMA); tinh thể màu trắng (mẫu QT2, KX1, KX3, KX4) là ma túy, có tổng khối lượng 43,78 gam, loại Ketamine.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận: Do không có việc làm nên T nảy sinh mua ma túy về bán kiếm lời từ khoảng đầu năm 2024. T được một người phụ nữ tên T3 (quen tại quán bar, không rõ lai lịch, địa chỉ) giới thiệu và cho số điện thoại của một người đàn ông tên P để mua ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 15/01/2024 T gọi điện cho P số 0965508335 hỏi mua 50 gam ma túy Ketamine và 100 viên thuốc lắc ma túy MDMA, P đồng ý và báo giá Ketamine 700.000đồng/01 gam, thuốc lắc giá 180.000đồng/01 viên. T đồng mua và hẹn địa điểm giao ma túy tại cổng chùa V, huyện K, thành phố Hải Phòng. Một lúc sau, P đi xe ô tô taxi còn T đi xe máy SH BKS 15C1: 390.60 đến điểm hẹn. P giao cho T 01 túi nilon màu đen trong túi có ma túy T đặt mua. T kiểm tra xong thì trả cho P 53.000.000đồng tiền mua ma túy.
T mang về nhà cân lại và đếm đủ số lượng cất giấu tại nhà, khi nào có khách liên lạc hỏi mua ma túy thì tùy theo nhu cầu của khách sẽ chia nhỏ để bán. T dự định bán Ketamine giá 1.400.000đồng/01 gam (hưởng lợi 700.000đồng/01 gam), bán 300.000đồng/01 viên thuốc lắc (hưởng lợi 120.000đồng/01 viên). T đã bán ma túy cho nhiều khách không rõ tên, địa chỉ và thu tiền mặt nhưng không nhớ được cụ thể. T chỉ nhớ khoảng 14 giờ 20 phút ngày 26/02/2024 T bán cho người tên S1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01gam ma túy loại Ketamine và 03 viên thuốc lắc với giá 2.300.000đồng tại công viên khu vực N, huyện K. Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày, S1 liên lạc với T hỏi mua 02 gam Ketamine và 05 viên thuốc lắc MDMA, Thằng đồng ý bán 01 gam Ketamine giá 1.400.000đồng/01 gam, 01 viên thuốc lắc giá 300.000đồng/01 viên và hẹn địa điểm giao hàng ở công viên khu vực N, huyện K. T chia ma túy cất giấu trong người rồi điều khiển xe máy BKS: 15C1-390.60 để đi giao ma túy cho S1 thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định, 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng kèm theo 01 sim, số tiền 1.900.000đồng, 02 cân điện tử và nhiều vỏ túi nilon, 01 ống nhựa màu trắng dài 04cm một đầu cắt vát chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
Về nguồn gốc xe máy BKS: 15C1- 390.60 T sử dụng để đi mua bán trái phép ma túy, T khai mua xe này từ khoảng năm 2000 giá 80.000.000đồng của anh Vũ Minh T4, sinh năm 1999, ở: xã H, huyện A (nay là phường H, quận A), Hải Phòng. Anh Vũ Minh T4 khai nhận phù hợp với lời khai của Trần Văn T. Cơ quan đã chuyển xe mô tô nêu trên theo hồ sơ vụ án để sử lý.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSHP-P1 ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phong đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận khối lượng các loại ma tuý Viện kiểm sát truy tố là đúng. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 17 năm 06 tháng đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền bị cáo từ 10 triệu đến 20 triệu đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 02 cân điện tử và nhiều vỏ túi nilon, 01 ống nhựa màu trắng dài 04cm một đầu cắt vát.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước xe máy BKS: 15C1- 390.60; số tiền 1.900.000đồng và 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng kèm theo 01 sim.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Luật sư có quan điểm bị cáo không phạm tội 02 lần nên không có căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Căn cứ các lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Trần Văn T đã có hành vi mua trái phép 50 gam, ma túy loại Ketamine và 100 viên thuốc lắc MDMA khối lượng 43 gam để bán kiếm lời. T đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó có đối tượng nam giới tên S1. T đã bán ma túy cho S1 01 lần vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 26/02/2024; đến 17 giờ 50 phút cùng ngày T tiếp tục mang ma túy đến bán cho S1 thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ toàn bộ số ma túy trên người và tại nơi ở của T.
Hành vi của bị cáo Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy vi phạm Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Ma tuý mà bị cáo Trần Văn T mua bán là 50 gam, ma túy loại Ketamine tương đương với 16,66 gam MDMA và 100 viên thuốc lắc MDMA khối lượng 43 gam, tổng lượng ma tuý bị cáo T mua bán là 59,666 gam MDMA nên hành vi của bị cáo Trần Văn T đã vi phạm điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự“ Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi Mua bán ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy. Vì vậy, cần xét xử các bị cáo với mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T đã nhiều lần bán ma tuý cho đối tượng S1 nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đối với tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ chấp nhận. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quan điểm của luật sư đề nghị không áp dụng đối với bị cáo là phạm tội 02 lần trở lên là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo đã mua bán, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, Khối lượng ma tuý bị cáo mua bán là 50 gam, ma túy loại Ketamine và 100 viên thuốc lắc MDMA khối lượng 43 gam ( quy đổi theo nghị định 19/CP tương đương với 59,666 gam MDMA). Nên xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên phạt bị cáo mức 10.000.000 đồng là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định không được phép sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ, 02 cân điện tử, 01 ống nhựa và các vỏ túi nilon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
01 xe mô tô và 01 điện thoại di động thu của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Số tiền 1.900.000 đồng là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[11] Các vấn đề khác: Trong vụ án này bị cáo T không khai được lai lịch người phụ nữ tên T3 giới thiệu P bán ma túy cho T vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.
Đối với đối tượng tên P bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra đã xác minh là Phạm Hồng P, sinh 1989, ĐKHKTT: số 6C100 Trại Chuối, Hồ N, Hải Phòng; chỗ ở: số F gác 2 C100 Trại Chuối, Hồ N, Hải Phòng. Hiện P vắng mặt tại địa phương. Tiến hành cho T nhận dạng đối với P, kết quả T không nhận dạng được P. Xác minh số điện thoại của P sử dụng 0965.508.xxx đăng kí chủ thuê bao là Phạm Hồng P. Ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh P bán ma túy cho T nên Cơ quan không có căn cứ để xử lý.
Đối với người tên S1 mua ma túy của T do T không khai được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra. Xác minh số điện thoại của S1 là 0589383553 chủ thuê bao là anh Bùi Đức T5, sinh năm 1988 ở thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Anh T6 khai không dăng kí chủ thuê bao và không sử dụng số điện thoại này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, xử phạt Trần Văn T 17 (mười bày) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/2/2024.
Phạt tiền bị cáo Trần Văn T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong các phong bì sau:
- 01 hộp giấy niêm phong mẫu vật hoàn lại, dấu niêm phong số 212MT/PC09 của Phòng K, trên niêm phong có chữ ký của Phạm Văn B, Đỗ Hoàng C, Đỗ Thị S, Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Văn A, Trần Văn T.
- 01 hộp giấy niêm phong vỏ bao gói, dấu niêm phong số 212MT-A/PC09 của Phòng K, trên niêm phong có chữ ký của Phạm Văn B, Đỗ Hoàng C, Đỗ Thị S, Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Văn A, Trần Văn T.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 cân điện tử màu đen kích thước khoảng 8x4x1cm; 01 cân điện tử màu bạc kích thước khoảng 5x12x1cm và nhiều vỏ nilon kích thước khác nhau; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài khoảng 4cm một đầu cắt vát, một đầu hàn kín.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động iphone màu vàng đã qua sử dụng có số IMEI: 355656666545876, IMEI 2: 355656666588660; 01 xe máy Sh màu đỏ biển kiểm soát 15C1-390.60. số khung RLHJF7308KY028379 số máy JF73E-0160916.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Uỷ nhiệm chi lập ngày 25/3/2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý- C1 với Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo, Trần Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
|
THẨM PHÁN Nguyễn Quốc Phương |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Thị Mai Vinh Lương Thị Kim Dung Phạm Mạnh Hùng
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 17 năm tù
