TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Tuyền - Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 14/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy B; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/7/1984 tại Hà Nội; Nơi ĐKTT: 26 nhà D tập thể T, T, H, Hà Nội. Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thái B1 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L (Đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất. Vợ: Đỗ Thị O (Sinh năm 1991); Nhân thân: Bản án số 351/2007/HSST ngày 26/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 08/8/2012. Đã nộp án phí ngày 29/7/2008 (Đã xóa án tích); D chỉ bản số 557 lập ngày 02/12/2024 tại Công an quận T, thành phố Hà Nội. Tạm giữ ngày 23/11/2024; Tạm giam ngày 02/12/2024 tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Vũ Trọng Đ; sinh năm: 1988; HKTT: xã H, H, Nam Định. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 20/11/2024 Nguyễn Duy B (là người nghiện ma túy, sống lang thang) đi bộ gần cổng trường Đại học K thì gặp anh Nguyễn Minh Đ1 (HKTT: phường T, quận H, Hà Nội) là bạn xã hội. Biết B không có việc làm ổn định nên anh Đ1 rủ B đi làm sơn và lắp đặt cửa sắt, B đồng ý. Sau đó anh Đ1 đưa B đến nhà số A ngõ E T, phường T, quận T, Hà Nội để làm việc. Anh Đ1 trao đổi với người thuê anh Đ1 là anh Vũ Trọng Đ thì được anh Đ đồng ý nhận B làm công việc sơn, lắp đặt cửa cho nhà số A ngõ E T cùng anh Đ1, thỏa thuận sẽ trả tiền công cho B sau khi xong việc.
Nguyễn Duy B làm việc đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày thì nghỉ và đi ra ngoài hút thuốc. Tại đây, B thấy chiếc xe mô tô Honda Blade màu đen BKS 20F1-728.25, số khung RLHJA367XNY011748, số máy JA36E1120901 của anh Đ đang dựng trước cửa gần nhà số A ngõ E T, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, không người trông coi nên B nảy sinh ý định trộm chiếc xe máy để bán lấy tiền tiêu xài. B nhìn ngó xung quanh thấy không có ai nên đẩy xe máy ra cách đó khoảng 10 mét rồi bật khóa điện, nổ máy và điều khiển xe máy bỏ đi đến vỉa hè khu vực cổng số 3 – Bệnh viện B2, B rút chìa khóa xe cất vào túi áo rồi nằm ngủ trên vỉa hè. Sáng hôm sau, B không thấy chiếc xe máy trên cùng chìa khóa đâu. Hiện không thu hồi được chiếc xe. Anh Vũ Trọng Đ đã trình báo cơ quan công an.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 210/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong TTHS – UBND quận T: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, BKS 20F1-728.25, số khung RLHJA367XNY011748, số máy JA36E1120901 trị giá 10.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của BLTTHS; Điều 228 của BLDS: Buộc Nguyễn Duy B phải bồi thường cho anh Vũ Trọng Đ số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành thì còn phải chịu lãi suất phát sinh trên số tiền phải thanh toán theo quy định của Bộ luật dân sự đến khi thanh toán xong.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Qua xét hỏi và tranh luận lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 20/11/2024, tại trước cửa gần nhà số A ngõ E T, phường T, quận T, Hà Nội, Nguyễn Duy B đã có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen, BKS 20F1-728.25 trị giá 10.000.000 đồng của anh Vũ Trọng Đ.
Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội; bị cáo có nhân thấn xấu nay phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Cần phải có hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng: không
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô nêu trên không thu hồi được, qua tra cứu chủ đăng ký xe là anh Triệu Văn Đ2 (Y, Đ, Thái Nguyên) đã bán xe cho anh Đoàn Văn T (xã H, H, Nam Định); anh T cho anh Vũ Trọng Đ chiếc xe trên để sử dụng; nay anh Đ yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe là 10.000.000 đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2024.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 228 của BLDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc Nguyễn Duy B phải bồi thường cho anh Vũ Trọng Đ số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành thì còn phải chịu lãi suất phát sinh trên số tiền phải thanh toán theo quy định của Bộ luật dân sự đến khi thanh toán xong.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hà |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | HỘI THẨM NHÂN DÂN |
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy B phạm tội Trộm cắp tài sản
