Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày 25/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thiệp, Bà Lê Thị Hồng Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 30/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 10/6/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Mạnh H, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Xuân H1, sinh năm 1973 và con bà Hoàng Thị V, sinh năm 1977; Gia đình có 01 con, bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2025 đến ngày 03/4/2025 bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Ngô Văn H2, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn K, sinh năm 1971 và con bà Phạm Thị V1, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ: Triệu Thị N, sinh năm 2004; Có 01 con, sinh năm 2024: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2025 đến ngày 03/4/2025 bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

Công ty TNHH I (Vắng mặt);

Đại diện theo pháp luật: Ông Cheon S – Chức vụ: Giám đốc điều hành.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hải N1, sinh năm 1990;

Trú tại: Đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Ngô Xuân H1, sinh năm 1973 (Có mặt);

Trú tại: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn H2, sinh năm 1995 và Ngô Mạnh H, sinh năm 2002 cùng có HKTT: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đều là nhân viên chính thức của Công ty TNHH S1 (gọi tắt: Công ty H3). H2 và H được công ty giao nhiệm vụ là nhân viên kho, làm việc tại kho 3 của Công ty H3. Công ty H3 là Công ty V2 của Công ty TNHH I (gọi tắt là Công ty I) có địa chỉ tại Khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên kho 3 của Công ty H3 nằm trong Công ty I. H2 được công ty giao quản lý và điều khiển chiếc xe ô tô tải BKS 51C - 834.41 để vận chuyển hàng theo phiếu xuất kho từ kho 2 Công ty I về kho 3 để sản xuất, gia công. Quá trình làm việc, H2 phát hiện thấy trong kho 2 của Công ty I có nhiều túi đựng Tray nhựa mới chưa qua sử dụng, mỗi túi đựng 100 chiếc Tray. Các tray nhựa này được dùng để đặt các khung xương và linh kiện điện thoại. H2 rủ H cùng trộm cắp các túi Tray nhựa bên trong kho 2 để bán lấy tiền chia nhau tiêu sài cá nhân. H đồng ý.

Vào khoảng 23 giờ ngày 20/03/2025, H2 điều khiển xe ô tô tải BKS 51C - 834.41 chở H đến kho 2, mục đích để trộm cắp các túi đựng Tray nhựa. H2 đỗ xe trước cửa kho 2 và đứng bên ngoài đợi, còn H kéo xe kéo hàng vào bên trong kho 2 đến vị trí để các loại Tray nhựa. Tại đây, H quan sát xung quanh không có người trông coi, H lén lút trộm cắp 17 túi đựng Tray nhựa, tổng cộng 1700 chiếc Tray nhựa gồm: 800 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006-PET-N5) và 900 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006 G736R). H xếp 17 túi Tray nhựa lên xe kéo hàng rồi kéo ra chỗ xe ô tô tải H2 đợi ở bên ngoài. H2 cùng H bê số Tray nhựa này xếp vào bên trong thùng xe tải. Sau đó, H2 điều khiển xe ô tô tải chở số Tray nhựa vừa trộm cắp được đỗ ở một vị trí cách kho 2 khoảng 100 mét rồi cùng H quay lại kho 3 làm việc. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 21/3/2025, H2 điều khiển xe ô tô tải chở số Tray nhựa vừa trộm cắp được ở trên cùng H quay lại kho 2 để tiếp tục trộm cắp. Với phương thức thủ đoạn như trên, H tiếp tục trộm cắp được 07 túi đựng Tray nhựa gồm tổng cộng 700 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006 G) và mang ra xe ô tô tải, sau đó H cùng H2 bê lên xe. Sau khi xếp các tray nhựa đã trộm cắp được vào bên trong thùng xe, H2 và H tiếp tục xếp số linh kiện điện tử vào bên trong thùng (số linh kiện này H2 có nhiệm vụ chở từ kho 2 về kho 3 theo phiếu xuất kho của công ty đã giao). Lúc này, H2 điều khiển xe ô tô BKS 51C-834.41 chở H cùng toàn bộ số Tray nhựa trộm cắp được cùng số linh kiện điện tử theo phiếu xuất kho đi qua cổng Công ty I. Khi đi qua chốt bảo vệ, H2 và H đưa cho bảo vệ phiếu xuất kho số linh kiện điện tử. Lợi dụng việc bảo vệ chỉ kiểm tra ngoại quan (chỉ mở thùng xe kiểm tra sơ qua số hàng linh kiện điện tử theo phiếu xuất kho mà không kiểm tra chi tiết hàng bên trong) nên H và H2 đã mang được số tray nhựa trộm cắp được ra khỏi cổng công ty. H2 điều khiển xe chở H đi đến ngã ba Đ thì H xuống xe đứng đợi, còn H2 chở số tray nhựa đến gầm cầu Đ. Tại đây, H2 bán số tray nhựa trộm cắp được cho một người đàn ông không quen biết được 2.600.000 đồng. H2 cầm tiền sau đó điều khiển xe tải quay lại đón H và chở số hàng linh kiện điện thoại về kho 3. Số tiền bán tray nhựa H2 và H chia nhau mỗi người 1.300.000 đồng, số tiền này cả hai đã tiêu sài cá nhân hết. Ngày 28/03/2025, Công ty I kiểm tra, phát hiện Tray nhựa trong kho 2 bị mất nên đã trình báo cơ quan Công an. Cùng ngày, H2 và H đến Công an xã Y đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp của bản thân.

Ngày 28/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H2 và H tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 đĩa DVD bên trong lưu trữ 04 đoạn video được trích xuất từ camera bên trong và hành lang bên ngoài kho 2 của Công ty I, ghi lại hình ảnh Ngô Mạnh H có hành vi lấy trộm các Tray nhựa vào ngày 20/03/2025 và ngày 21/03/2025 và 02 phiếu xuất hàng ngày 20/3/2025 và ngày 21/3/2025 do công ty I tự nguyện giao nộp.

Ngày 31/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã yêu cầu định giá giá trị tại thời điểm bị mất trộm ngày 20 và 21/3/2025 đối với 800 chiếc Tray nhựa loại Tr 006-PET-N5 và 1600 chiếc Tray nhựa loại Tr 006 G736R.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 02/04/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận:

  • “- 800 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006-PET-N5) có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 2.640.000 đồng.
  • - 1600 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006 G736R) có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 4.400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 7.040.000 đồng”.

* Về bồi thường dân sự:

  • - Ngô Văn H2 và Ngô Mạnh H đã tự nguyện tác động gia đình là ông Ngô Xuân H1, sinh năm 1973, HKTT: thôn P, xã D, huyện Y (Bố đẻ của H và là chú ruột của H2) khắc phục, bồi thường cho Công ty I toàn bộ giá trị tài sản đã trộm cắp. Ông H1 không yêu cầu H2 và H phải hoàn trả lại số tiền này.
  • - Đại diện của công ty I là anh Nguyễn Hải N1, sinh năm 1990, HKTT: T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh không yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H2 và H.

Tại Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSYP ngày 30/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố các bị cáo Ngô Văn H2 và Ngô Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Mạnh H, Ngô Văn H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

Bị cáo Ngô Mạnh H từ 8 tháng đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/6/2025.

Bị cáo Ngô Văn H2 từ 10 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/6/2025.

  • - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại bồi thường và không có yêu cầu.
  • - Về vật chứng: Không.

Lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD bên trong lưu trữ 04 đoạn video được trích xuất từ camera của Công ty I.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tại kho 2 của công ty I thuộc Khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Ngô Văn H2 và Ngô Mạnh H cùng là nhân viên kho 3 của công ty H3 đã liên tiếp có hành vi lén lút trộm cắp các túi đựng Tray nhựa. Cụ thể:

  • - Khoảng 23 giờ ngày 20/03/2025, H2 và H lén lút trộm cắp 17 túi đựng Tray nhựa gồm: 800 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006-PET-N5) và 900 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006 G736R) có trị giá 5.115.000 đồng
  • - Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 21/3/2025, H2 và H lén lút trộm cắp 07 túi đựng Tray nhựa gồm: 700 chiếc Tray nhựa (Loại Tr 006 G736R) có trị giá 1.925.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản H2 và H đã trộm cắp là 7.040.000 đồng. Số tài sản trộm cắp được H2 và H đã bán cho một người đàn ông không quen biết được 2.600.000 đồng, số tiền này H2 và H chia nhau mỗi người 1.300.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.

Đây là vụ án đồng phạm giảm đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý với giá trị tài sản trộm cắp trị giá 7.040.000 đồng. Bị cáo H2 là người khởi xướng và trực tiếp đem các Tray nhựa đi tiêu thụ. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Công ty được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà ngày hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đã tự nguyện tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo H có ông ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, các bị cáo đã đến Công an đầu thú nên H và H2 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó HĐXX nhận thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo giáo dục đối với các bị cáo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại đã nhận được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - Về vật chứng: Không.

Lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD bên trong lưu trữ 04 đoạn video được trích xuất từ camera của Công ty I.

[3] Những vấn đề khác:

  • Liên quan trong vụ án đối với chiếc xe ô tô tải BKS 51C-834.41 mà H2 điều khiển và chiếc xe kéo H sử dụng để trộm cắp đều là tài sản của công ty H3 nên Cơ quan Công an không tiến hành tạm giữ là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông mua số tray nhựa mà H2 và H trộm cắp được: Quá trình làm việc, H2 không cung cấp được bất kỳ thông tin liên quan gì đến người đàn ông này, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • - Đối với anh Bùi Văn T, sinh năm 1994, HKTT: khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là bảo vệ của công ty. Anh T không biết việc ngoài số hàng linh kiện điện tử theo phiếu xuất kho thì H2 và H còn cất giấu trong thùng xe các tray nhựa trộm cắp được nên Cơ quan Công an không xử lý là phù hợp.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Mạnh H, Ngô Văn H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

Bị cáo Ngô Mạnh H 08 (T1) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/6/2025.

Bị cáo Ngô Văn H2 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/6/2025.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Giao các bị cáo Ngô Mạnh H và Ngô Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do các bị hại đã nhận được bồi thường và không có yêu cầu gì khác.
  2. Về vật chứng: Không.

Lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD bên trong lưu trữ 04 đoạn video được trích xuất từ camera của Công ty I.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Báo cho các bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./..

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Mạnh H, Ngô Văn H trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger