Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1- Ông Lê Văn Vững.
  • 2- Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bửu A. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 20/11/1979. Nơi sinh: Đồng Tháp. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 7/12. Cha: Nguyễn Phi H (đã chết). Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1961 (còn sống). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 1 trong gia đình. Vợ: Văn Thị T1, sinh năm: 1984 (đã ly hôn). Con: có 01 người con sinh năm 2005. Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Chấp hành án phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân theo bản án số 23/HSST ngày 21/10/1997; Chấp hành án phạt 04 năm tù về tội cướp tài sản theo bản án số 06/2015/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2015. Tạm giữ: ngày 09/3/2025. Tạm giam: từ ngày 12/3/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ và có mặt tại điểm cầu số 02, tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Điểm cầu số 01 (Điểm cầu trung tâm): Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 09 tháng 3 năm 2025, bị cáo Nguyễn Bửu A điều khiển xe mô tô biển số 54S8-2816 đi từ thị trấn M đến xã M tìm chuối để trộm, khi Bửu A đi đến khu vực cầu vượt M thì gặp nhóm người (không rõ họ tên, địa chỉ) đang ngồi uống rượu. Bửu A dừng xe lại để xin thuốc hút thì được nhóm người đó mời vào ngồi uống rượu và sử dụng ma túy, thì Bửu A đồng ý sử dụng cùng rồi cho Bửu A 02 (hai) đoạn ống hút chứa ma túy bên trong, Bửu A nhận rồi để vào gói thuốc lá và để vào túi quần trước bên trái cất giữ nhằm mục đích sử dụng.

Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Bửu A điều khiển xe biển số 54S8-2816 về hướng xã M tìm tài sản để lấy trộm, khi đến trại cây giống Thanh Thắm của ông Nguyễn Văn T2 trên đường H thuộc ấp E, xã M, huyện T nhìn thấy cây giống không có người trông coi, Bửu A đi bộ đến hàng rào lén lút lấy trộm 19 cây mít giống thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang thu giữ ma túy Bửu A cất giấu trong người.

Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 01 bao thuốc lá hiệu JET trong túi quần trước bên trái bên trong có 04 điếu thuốc lá hiệu JET và 02 đoạn ống hút màu, một đoạn màu trắng và 01 đoạn màu hồng được hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.
  • 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu REALME màu xanh, đã qua sử dụng; 01 Căn cước công dân tên Nguyễn Bửu A; 01 thẻ ATM ngân hàng V tên Nguyễn Bửu A; 01 hột quẹt gas màu tím đã qua sử dụng; 01 ví da màu đen qua sử dụng; 01 đèn pin đội đầu màu vàng, xanh, nâu đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam đồng 311.000 đồng (Ba trăm mười một ngàn đồng); Một xe mô tô nhãn hiệu LOCIN màu xanh, biển kiểm soát 54S8-2816, đã qua sử dụng; 01 cái bao đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 275/KL-KTHS ngày 11/3/2025 kết luận: số ma túy thu giữ có tổng khối lượng 0,129 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Kết quả xác định tình trạng nghiện: Nguyễn Bửu A dương tính với chất gây nghiện Methamphetanine. (bút lục 47)

Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản cấp Tỉnh kết luận: Tổng giá trị 19 cây mít giống ruột đỏ: 46.000 đồng/cây x 19 cây = 874.000 đồng (Tám trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).

Kết luận giám định số 340/KL-KTHS ngày 07/4/2025 của Phòng K, Công an tỉnh Đ kết luận: xe mô tô biển số 54S8-2816, kiểu dáng Wave, màu sơn xanh gửi giám định có số, ký tự khung bị thay đổi; số, ký tự máy trước và sau giám định không thay đổi. Cụ thể: Số ký tự khung bị tẩy, xóa, sau giám định được đọc lại LWGXCHL08Y1043264. Số, ký tự máy trước và sau giám định không thay đổi: LC152FMH ✩00823264☆.

Đối với xe mô tô 54S8-2816 Nguyễn Bửu A mua lại của người tên T3 khoảng 30 tuổi ở Đ giá 1.000.000 đồng, không có giấy tờ xe biển số xe nhặt được có dính sơn nên nhìn thấy là 54S8-4818. Hiện cơ quan điều tra không xác định được người tên T3.

Kết quả tra cứu phương tiện: Công văn số 255/PC08-Đ3 ngày 20/3/2025 của Phòng C Công an tỉnh Đ, phúc đáp: Xe mô tô biển kiểm soát 54S8-2816, số khung: LWGXCHL08Y1043264; số máy: LC152FMH 00823264 không có thông tin phương tiện trên hệ thống đăng ký xe; Xe mô tô biển kiểm soát 54S8-4818, số khung: LWGXCHL08Y 1043264; số máy: LC152FMH 00823264 không có thông tin phương tiện trên hệ thống đăng ký xe. Xe mô tô số khung: LWGXCHL08Y 1043264; số máy: LC152FMH*00823264* không có thông tin phương tiện trên hệ thống đăng ký xe. Không xác định được các xe nêu trên có trong hệ thống thu hồi biển đăng ký, biển số xe.

Đối với các tài sản, đồ vật bị thu giữ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xử lý tài sản, đồ vật theo quyết định số 6726/QĐ-CSMT, ngày 30/5/2025 để chuyển đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu REALME màu xanh, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân tên Nguyễn Bửu A; 01 thẻ ATM ngân hàng V tên Nguyễn Bửu A; 01 hột quẹt gas màu tím đã qua sử dụng; 01 ví da màu đen qua sử dụng; 01 đèn pin đội đầu màu vàng, xanh, nâu đã qua sử dụng; tiền Việt Nam đồng 311.000 đồng (Ba trăm mười một ngàn đồng); một xe mô tô nhãn hiệu LOCIN màu xanh, biển kiểm soát 54S8-2816, đã qua sử dụng; 01 cái bao đã qua sử dụng.

Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTM ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, đã truy tố bị cáo Nguyễn Bửu A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những căn cứ kết tội đối với các bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bửu A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Bửu A1 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bửu A số tiền 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định trong phong bì thư có khối lượng 0,069 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bửu A thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm. Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Bửu A đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên đã thực hiện đúng pháp luật.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Bửu A là người nghiện ma túy, bị cáo Bửu A điều khiển xe mô tô biển số 54S8-2816 đi từ thị trấn M đến xã M tìm chuối để trộm, khi Bửu A đi đến khu vực cầu vượt M thì gặp nhóm người (không rõ họ tên, địa chỉ) đang ngồi uống rượu. Bửu A dừng xe lại để xin thuốc hút thì được nhóm người đó mời vào ngồi uống rượu và sử dụng ma túy, thì Bửu A đồng ý sử dụng cùng rồi cho Bửu A 02 (hai) đoạn ống hút chứa ma túy bên trong, Bửu A nhận rồi để vào gói thuốc lá và để vào túi quần trước bên trái cất giữ nhằm mục đích sử dụng. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Bửu A điều khiển xe biển số 54S8-2816 về hướng xã M tìm tài sản để lấy trộm, khi đến trại cây giống Thanh Thắm của ông Nguyễn Văn T2 trên đường H thuộc ấp E, xã M, huyện T nhìn thấy cây giống không có người trông coi, Bửu A đi bộ đến hàng rào lén lút lấy trộm 19 cây mít giống thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang thu giữ ma túy Bửu A cất giấu trong người, kết luận giám định loại Methamphetamine có trọng lượng 0,129 gam, bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 05 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 3 năm 2025 tại ấp E, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Bửu A đã phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) ..., Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó, Cáo trạng số 53/CT-VKSTM ngày 05tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát huyện T, đã truy tố bị cáo Nguyễn Bửu A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Bị cáo Nguyễn Bửu A là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là hành vi pháp luật nghiêm cấm, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy và gây mất trật tự trị an ở địa phương, biết tác hại của ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe, đạo đức, thuần phong mỹ tục, là nguồn gốc phát sinh và xảy ra nhiều loại tội phạm khác. Do đó, bị cáo thực hiện hành vi cố ý, xem thường pháp luật.

[5] Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là rất cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, để các bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho gia đình, cho xã hội. Đồng thời, góp phần phòng ngừa tội phạm trong toàn xã hội nói chung và tại địa phương huyện T nói riêng, do tình hình tội phạm hình sự có chiều hướng ngày càng gia tăng, phức tạp.

[6] Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

[7] Về vật chứng: Giải quyết theo quy định.

[8] Đối với những người bị cáo gặp, mời bị cáo sử dụng ma túy và đưa ma túy cho bị cáo do không rõ lai lịch không xác minh làm việc được nên tách ra khỏi vụ án này để xác minh làm rõ xử lý sau.

[9] Đối với hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 874.000 đồng của ông Nguyễn Văn T2 không đủ định lượng để xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ chuyển về Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cùng với các tài sản, đồ vật bị tạm giữ để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền là phù hợp.

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo Bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bửu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bửu A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2025.

2. Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bửu A số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng ) sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng :

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định trong phong bì thư có khối lượng 0,069 gam.

Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/6/2025.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Bửu A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS Tỉnh, Huyện;
  • - Tòa án ND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Trại TG CA tỉnh ĐT;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP TA Huyện (Dũng).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ MÀ TÚY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger