|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày: 25 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Giàu;
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025; đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S1, sinh năm: 1954 (còn sống); bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 08 tháng 10 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 17 tháng 10 năm 2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
- Bà Lê Thị N, sinh năm: 1974.
- Ông Trịnh Duy H, sinh năm: 1967.
Cùng địa chỉ: Số A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Nguyễn Văn Sinh sống chung như vợ chồng với chị Trần Thị H1, (sinh năm 1984, thường trú xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng) tại phòng trọ thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai từ năm 2014.
Vào năm 2017, qua mối quan hệ ngoài xã hội, S và chị H1 quen biết anh Trịnh Quốc C, sinh năm 1996, thường trú tại khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến năm 2019, chị H1 đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, không còn sinh sống cùng S. Đến khoảng giữa năm 2020, chị H1 về nước và ở tại huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây, S và chị H1 có gặp nhau 02 (hai) ngày thì S về thành phố Hồ Chí Minh làm phụ hồ. Từ đó, S không liên lạc được với chị H1, S nhiều lần đi tìm kiếm chị H1 nhưng không gặp. Trong thời gian cả hai sống chung với nhau, chị H1 chỉ ở nhà nội trợ, ít mối quan hệ bên ngoài xã hội nên khi không liên lạc được với chị H1, S nhớ đến trước đây chị H1 có quen và nhờ anh C đi đòi nợ giúp nên S nghi ngờ anh C biết chị H1 đang ở đâu. Từ giữa năm 2020 đến tháng 03 năm 2024, S nhiều lần đến nhà bà Lê Thị N, sinh năm 1974 (Mẹ của anh C) và ông Trịnh Duy H, sinh năm 1967 (bố của anh C), tại khu phố E, phường L, thành phố B để gặp anh C hỏi chị H1 đang ở đâu, anh C và gia đình đã trả lời không biết, nhưng S vẫn nghi ngờ anh C giấu thông tin của chị H1. Sau đó, S nảy ý định dùng xăng đốt cổng nhà bà N, ông H đe doạ gây áp lực để anh C chỉ chỗ ở của chị H1 cho S.
Khoảng 17 giờ, ngày 07 tháng 10 năm 2024, S đi bộ từ phòng trọ ở khu phố H, phường T, thành phố B đến tiệm bán đồ nhựa do ông Nguyễn Công T, sinh năm 1967 làm chủ tại địa chỉ: Chợ C2, thuộc khu phố D, phường L, thành phố B, mua 01 xô nhựa màu đỏ thể tích 14 lít có nắp đậy với giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) rồi tiếp tục đi bộ đến cây xăng S2 địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường L, thành phố B mua 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) xăng đổ vào xô nhựa và đậy nắp lại. Sinh xách xô nhựa chứa xăng đi quay lại hướng chợ cổng 10 thuộc phường L, thành phố B rồi mua một chiếc bật lửa gas ở tiệm bán nước do chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1982 làm chủ với giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng) cất vào túi quần bên phải. Khi đi đến trước siêu thị Đ, địa chỉ thuộc tổ B, khu phố D, phường L thì Sinh thuê ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1965, thường trú khu phố D, phường L, thành phố B làm nghề xe ôm chở S đến nhà của bà N, ông H, tại khu phố E, phường L. Ông L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60F1-88111 chở S đi theo chỉ dẫn của S. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến cách nhà bà N, ông H khoảng 50m, S nói ông L dừng xe ngoài ngõ đứng đợi Sinh khoảng 05 phút. Sau đó, S đi bộ cầm theo xô đựng xăng, đi đến trước cổng nhà bà N, ông H, cách cửa chính nhà khoảng hơn 04m, quan sát thấy cổng đang đóng kín, S mở nắp xô nhựa rồi tạt xăng vào cổng, S để xô xuống đất và cầm bật lửa châm lửa đốt, khi lửa bén lên, S ném bật lửa lại rồi bỏ chạy ra chỗ ông L, nói ông L chở đến khu vực gần Công an phường L, thành phố B. Sau đó, S một mình đến Công an phường L đầu thú.
Vụ cháy đã hủy hoại 01 (một) cửa kéo loại 02 cánh bằng nhôm, 01 (một) biển quảng cáo, 01 (một) hồ bơi trẻ em, 01 (một) con chó cỏ của bà Lê Thị N, ông Trịnh Duy H.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) USB chứa hình ảnh vụ hủy hoại tài sản, lưu cùng hồ sơ vụ án.
- 01 (một) xô nhựa màu đỏ bị cháy biến dạng và 01 (một) nắp xô màu đỏ trên nắp ghi 14 lít là công cụ Nguyễn Văn S sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, chuyển xử lý cùng vụ án.
- 01 (một) bật lửa gas sau khi gây án S bỏ lại tại hiện trường đám cháy, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C2 RMX 1941, Số I: 860722054192617 của Nguyễn Văn S, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho S.
- 01 (một) cửa kéo loại 02 cánh bằng nhôm, 01 (một) biển quảng cáo, 01 (một) hồ bơi trẻ em, 01 (một) con chó cỏ Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lê Thị N.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 344/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) cửa kéo loại 02 cánh bằng nhôm có trị giá 3.993.600đ (ba triệu chín trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm đồng), 01 (một) biển quảng cáo trị giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), 01 (một) hồ bơi trẻ em trị giá 420.000đ (bốn trăm hai mươi nghìn đồng), 01 (một) con chó cỏ trị giá 663.000đ (sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản định giá là 5.676.600đ (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Tại bản kết luận giám định số 2392/KL-KT, ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu xô nhựa và nắp nhựa màu đỏ bị cháy biến dạng được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị N không yêu cầu bị cáo S bồi thường. Bị hại ông Trịnh Duy H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.676.600đ (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng), bị cáo chưa bồi thường.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 98/CT-VKSBH ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định;
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
3. Lời nói sau cùng:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại bà Lê Thị N vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố đã cung cấp đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bà N không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bà N theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, ông Trịnh Duy H xác định tài sản mà bị cáo hủy hoại là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông và bà Lê Thị N. Ông H đã cung cấp được các tài liệu, chứng cứ liên quan đến quan hệ hôn nhân và tài sản bị hủy hoại là tài sản chung của vợ chồng ông và bà N. Do đó, Hội đồng xét xử đưa ông Trịnh Duy H vào tham gia tố tụng với tư cách bị hại trong vụ án.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 40 phút, ngày 07 tháng 10 năm 2024, tại số nhà A tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn S có hành vi tạt xăng đốt cổng nhà của bà Lê Thị N và ông Trịnh Duy H, gây thiệt hại tài sản là 5.676.600đ (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng). Sau đó, S đến Công an phường L, thành phố B đầu thú.
- Về tội danh: Từ các căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số: 98/CT-VKSBH ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì nghi ngờ không có cơ sở đã thực hiện hành vi gây tổn hại đến tài sản của người khác với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú và có nhân thân tốt nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) xô nhựa và 01 (một) nắp xô màu đỏ bị cháy biến dạng, là công cụ Sinh sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 (một) USB chứa hình ảnh vụ hủy hoại tài sản, lưu cùng hồ sơ vụ án.
[4] Về các vấn đề khác:
Đối với ông Nguyễn Duy L là tài xế xe ôm, khi chở S, ông L không biết S đi thực hiện hành vi phạm tội nên không xử lý hình sự đối với ông L là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà Lê Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 5.676.600đ (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng) theo yêu của bị hại ông Trịnh Duy H.
[6] Về án phí:
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo, bị hại tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2024.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) xô nhựa và 01 (một) nắp xô màu đỏ bị cháy biến dạng. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 01 năm 2025)
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải bồi thường cho bị hại ông Trịnh Duy H số tiền 5.676.600đ (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 283.830đ (hai trăm tám mươi ba nghìn tám trăm ba mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn S, bị hại Trịnh Duy H được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Lê Thị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hủy hoại tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 18 giờ 40 phút, ngày 07 tháng 10 năm 2024, tại số nhà A tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn S có hành vi tạt xăng đốt cổng nhà của bà Lê Thị N và ông Trịnh Duy H, gây thiệt hại tài sản là 5.676.600đ (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng). Sau đó, S đến Công an phường L, thành phố B đầu thú.
