Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 19/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung

Bà Nguyễn Thị Mai Linh.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Quách Thị Thuỷ– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Đinh Việt Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/TLST – HS ngày 23/05/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST – HS, ngày 04 tháng 06 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V; Giới tính: Nam ; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 04/07/1997 tại: Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông : Nguyễn Văn N, sinh năm 1973; Con bà : Phùng Thị H, sinh năm 1974; Cả hai cùng trú tại: Xóm C, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình ; Vợ, con : Chưa có. Gia đình bị cáo có 02 anh em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 28/3/2014,Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 18/2014/HSST.
  • + Ngày 14/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 22/2014/HSST, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành xong của bản án trước được quy đổi là 07 ngày tù, tổng hình phạt chung là 06 tháng 07 ngày tù.

1

  • + Ngày 01/7/2015, Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 13/2015/HSST, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành xong của bản án trước là 06 tháng 07 ngày tù, tổng hình phạt chung là 24 tháng 07 ngày tù.

Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 10/03/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Đinh Thị T, sinh năm 2001 và anh Giang Tuấn A, sinh năm 1989. Cùng cư trú: Số nhà A, ngõ A, tổ G, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1997; trú tại: xóm C, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình được anh Nguyễn Văn T1, Sinh năm 1989; trú tại: khu A, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ thuê làm thợ phụ hồ xây dựng tại khu vực tổ E, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 08/3/2025, V đi bộ một mình từ lán thợ xây đến khu vực tổ G, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, mục đích nhằm trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà chị Đinh Thị T, sinh năm 2001 và anh Giang Tuấn A, sinh năm 1989, cùng trú tại số nhà A, ngõ A thuộc tổ G, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, Vĩnh quan sát cửa nhà không đóng kín nên nảy sinh ý định vào tìm kiếm tài sản để trộm cắp. V đi vào trong nhà bằng lối cửa chính, tìm kiếm quanh khu vực phòng khách và khu gian thờ cúng nhưng không thấy tài sản gì. Vĩnh tiếp tục đi vào khu vực phía trong thì thấy chị T nằm trong phòng ngủ, V đi sang phòng ngủ của con chị T thì phát hiện có 01 con lợn đất để tiền tiết kiệm màu đỏ ở khu vực bàn học. V cầm con lợn đất lên lắc thấy bên trong có tiền nên lén lút cầm và đi ra bằng lối cửa chính. Sau khi ra ngoài, V đi sang khu vực bãi đất trống trồng rau đối diện nhà chị T, đi vào góc vườn. Tại đây, V đặt con lợn xuống đất, dùng 01 viên gạch nhặt được gần đó đập vỡ con lợn và lấy hết số tiền bên trong. Tổng số tiền V lấy được là 5.100.000 đồng, V đã chi tiêu cá nhân hết 4.855.000 đồng. Ngày 10/3/2025, Bị cáo V đến Công an phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình xin đầu thú, giao nộp số tiền 245.000 đồng.

Tại Thông báo kết quả giám định tiền số 371/TB-KV3 ngày 23/4/2025 của Ngân hàng N1 chi nhánh K, kết luận: “Số tiền 245.000 đồng gửi giám định gồm 13 tờ tiền mệnh giá khác nhau là tiền thật do N2 phát hành.”

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 giỏ nhựa màu đen hình hộp chữ nhật, kích thước 0,31x0,45x0,18(m); Các mảnh vụn hình dạng không xác định; Nửa viên gạch đỏ bám dính bê tông, kích thước 0,15x0,09x0,1(m) và 245.000 đồng tiền Việt Nam thu giữ trong quá trình điều tra được chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Đinh Thị T và anh Giang Tuấn A không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trộm cắp trên.

2

Cáo trạng số 61/CT - VKSTPHB ngày 23/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 12 (mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) giỏ nhựa màu đen hình hộp chữ nhật, kích thước 0,31 x 0,45 x 0,18m; Các mảnh vụn của con lợn đất, hình dạng không xác định; Nửa viên gạch đỏ, kích thước 0,15 x 0,09 x 0,1m;
  • - Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước 245.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) là tiền Nguyễn Văn V phạm tội mà có. Truy thu của bị cáo số tiền 4.855.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng phạt mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Công an phường Q, thành phố H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. [2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Nguyễn Văn V bản thân là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, bản tính bị cáo lười lao động, mà lại muốn có tiền để chi tiêu cá nhân, hưởng thụ thành quả lao động của ngời khác, ngày 08/03/2025 bị cáo V đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chị T và anh Tuấn A đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là con lợn đất để tiền tiết kiệm. Bên trong con lợn đất có số tiền là 5.100.000 đồng (Năm triệu một

3

  1. trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  2. [3] Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là người có nhân thân xấu, nhận thức được việc lén lút trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật. Do vậy, cần có hình phạt phù hợp với tính chất và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
  3. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét, áp dụng cho bị cáo.

  4. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản và nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  5. [6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại chị Đinh Thị T và anh Giang Tuấn A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn V bồi thường thiệt hại số tiền thiệt hại tài sản là 5.100.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy số tiền trên bị cáo do phạm tội mà có nên cũng cần truy thu số tiền trên của bị cáo, sung công quỹ nhà nước. Cần đối trừ số tiền 245.000 đồng bị cáo đã nộp tại cơ quan điều tra, truy thu của bị cáo số tiền còn lại là 4.855.000 đồng (Bốn triệu tám trăm lăm mươi năm nghìn đồng).
  6. [7] Về xử lý vật chứng : Xét 01 (một) giỏ nhựa màu đen hình hộp chữ nhật, kích thước 0,31 x 0,45 x 0,18m; các mảnh vụn của con lợn đất, hình dạng không xác định, nửa viên gạch đỏ, kích thước 0,15 x 0,09 x 0,1m xét đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  7. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/03/2025.

4

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp niêm phong dán kín, một mặt có ghi: “VẬT CHỨNG VỤ ÁN: Nguyễn Văn V, sinh năm 1997, trú tại: xóm C, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình – Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 08 tháng 3 năm 2025. Tại: Tổ G, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Trên mép dán hộp niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H, dấu tròn đỏ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình và dấu tròn đỏ của Công an phường Q, bên trong gồm: 01 (một) giỏ nhựa màu đen hình hộp chữ nhật, kích thước 0,31 x 0,45 x 0,18m; Các mảnh vụn của con lợn đất, hình dạng không xác định; Nửa viên gạch đỏ, kích thước 0,15 x 0,09 x 0,1m ;
    • - Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước 245.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) là tiền Nguyễn Văn V phạm tội mà có. Theo Biên lai thu tiền số : 0000304, ngày 02/06/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 95 BB/2025 ngày 02/06/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình).

    Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn V số tiền 5.100.000 đồng sung công quỹ nhà nước. Bị cáo được đối trừ số tiền 245.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000304 ngày 02/6/2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tiếp tục truy thu của bị cáo số tiền còn lại là 4.855.000 đồng (Bốn triệu tám trăm lăm mươi năm nghìn đồng) sung công quỹ nhà nước.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về thu, miễn, giảm án phí. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Công an tỉnh HB
  • - Thi hành án hình sự, Công an tỉnh
  • - Chi cục Thi hành án DS TPHB;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Lan

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/03/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger