Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 14-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Thái Văn Sơn;
  • - Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Văn B, sinh năm: 1993 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Â, sinh năm: 1970 và bà Trần Thu T, sinh năm: 1971, bị cáo có vợ tên Liêu Thị T1, sinh năm: 2004, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, đến ngày 19/12/2024 bị tạm giam cho đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Thạch Thị Trúc L, sinh năm: 1989 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch V, sinh năm: 1950 và bà Thạch Thị H, sinh năm: 1965; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn R, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và hiện có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Văn R, sinh năm: 1987 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1943 (đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm: 1950 (đã chết); bị cáo có vợ tên Thạch Thị Trúc L, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và hiện có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Nguyễn Hoàng G, sinh năm: 2003 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T2, sinh năm: 1964 và bà Trần Thị D, sinh năm: 1966; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và hiện có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1969 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1943 (đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm: 1950 (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T3, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 03/9/2024, Đ1 Công an huyện C kiểm tra tại nhà của bà Trần Thị D ở địa chỉ số A đường T, ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Trần Văn B, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R, Nguyễn Hoàng G và Lê Thành H1 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài cào 06 lá thắng thua bằng tiền. Bé làm cái cho các con bạc đã đặt cược được ba ván, đến ván thứ tư đã đặt cược, chia bài xong nhưng chưa xác định kết quả thắng thua thì bị bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 5.700.000đ, 01 bộ bài tây 52 lá đang sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 tấm chiếu màu xanh dùng ngồi để đánh bạc.

Quá trình điều tra xác định, vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/09/2024, ông Nguyễn Văn L1 đến nhà bà Trần Thị D (là chị dâu của ông L1) tại địa chỉ số A đường T, ấp E, xã T, huyện C để thăm anh ruột là ông Nguyễn Đức T2 bị bệnh tai biến. Khi đến ông L1 thấy khoảng 05 người đang chơi đánh bài cào 06 lá thắng thua bằng tiền, thấy vậy ông L1 vào làm cái mỗi tụ đặt tiền từ 50.000đ đến 100.000đ. Chơi được khoảng mấy ván thì ông Lâm N, không chơi nữa và có cho Trần Văn B mượn số tiền 1.000.000đ để Bé vào làm cái, ông L1 đứng ngoài xem đến lúc bị bắt quả tang.

Căn nhà số A đường T, ấp E, xã T, huyện C do bà D và ông T2 thuê để ở. Do ngày 03/9/2024 còn nghỉ lễ Quốc K nên anh, em, con cháu tụ họp ăn nhậu tại nhà của ông T2 và bà D. Sau khi nhậu xong, những người này định đi nhậu tiếp thì ông T2 sợ ra đường bị bắt nồng độ cồn nên kêu mọi người ở nhà chơi. Ông T2 kêu bà D đưa tiền mua bài để mọi người chơi giải trí, bà D chỉ còn có 7.000đ nên bỏ ra 7.000đ, ông T2 bỏ ra 3.000đ kêu cháu gái ruột tên Nguyễn Thị Như Ý (12 tuổi) đi mua bài về để mọi người chơi giải trí ở nhà, vị trí đánh bạc là ở phía sau nhà bếp. Ông T2 và bà D không biết việc anh, em, con cháu chơi đánh bài hình thức gì, thắng thua như thế nào, ông T2 bị tai biến và bà D đã say nằm ngủ trên phòng khách, khi bị bắt quả tang thì ông T2 bà D mới biết đánh bài thắng thua bằng tiền.

Vật chứng thu giữ: Tiền ngân hàng N1 5.700.000đ thu trên chiếu bạc; 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 tấm chiếu màu xanh dùng ngồi để đánh bạc; tiền ngân hàng N1 180.000 đ thu giữ trong người của Nguyễn Văn R; tiền ngân hàng N1 200.000đ thu giữ trong người của Nguyễn Hoàng G; tiền ngân hàng N1 700.000đ thu giữ trong người của Nguyễn Văn L1; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 màu đỏ thu giữ của Nguyễn Văn R không liên quan đến hành vi đánh bạc, đã trả lại cho R; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius biển số: 68B1-280.25 thu giữ của Nguyễn Văn L1, đã trả lại cho L1; tiền ngân hàng N1: 110.000đ thu giữ trên người của Trần Thị T4, đã trả lại cho T4; tiền ngân hàng N1 600.000đ thu giữ trên người của Trần Văn Ẫ, đã trả lại cho A.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS.CC ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Trần Văn B, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R, Nguyễn Hoàng G và Nguyễn Văn L1 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/9/2024, bị cáo đến nhà anh ruột Nguyễn Đức T2 bị bệnh tai biến tại nhà trọ số A Tỉnh lộ 8, ấp E, xã T, huyện C thăm bệnh, bị cáo thấy có khoảng 04 người đang chơi đánh bài cào 06 lá thắng thua bằng tiền để ăn lẩu nên bị cáo vào tham gia, lấy 500.000đ ra làm cái, bị cáo làm cái với bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn R và 02 người khác cùng tham gia đánh bạc, mỗi tụ đặt từ 50.000đ đến 100.000đ. Bị cáo chơi được vài ván đến khoảng 20 giờ 30 phút thì nghỉ chơi, bị cáo lời 200.000đ. bị cáo B hết tiền nên hỏi mượn bị cáo 1.000.000đ để làm cái thì bị cáo đồng ý. Đến 21 giờ 00 phút, Công an phát hiện các bị cáo đang đánh bạc nên bắt giữ, thu giữ của bị cáo số tiền 700.000đ là tiền dùng để đánh bạc.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, bị cáo đến nhà trọ của bà Trần Thị Dư S1 154 Tỉnh lộ 8, ấp E, xã T, huyện C để chơi, bị cáo thấy bị cáo L1 làm cái bài cào 06 lá cho Lê Thành H1, Nguyễn Văn R, Thạch Thị Trúc L và Nguyễn Hoàng G chơi thắng thua bằng tiền nên bị cáo cùng tham gia để khi nghỉ chơi có tiền ăn lẩu, bị cáo cược 03 ván, mỗi ván 50.000đ, chưa thắng thua. Đến khoảng 20 giờ 45 phút thì bị cáo L1 không làm cái và nghỉ chơi, bị cáo còn số tiền 560.000đ và hỏi mượn thêm của bị cáo L1 1.000.000đ để làm cái thì bị cáo L1 đồng ý, bị cáo L1 đưa cho bị cáo 1.000.000đ, R, Hội, L, G đặt cược mỗi tụ cược từ 50.000đ đến 100.000đ. Bị cáo làm cái được khoảng 04 ván, khi bị cáo đang chia bài cho L, Hội, R, G đặt cược chưa biết thắng thua thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Thị Trúc L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, bị cáo đến nhà trọ của bà Trần Thị Dư S1 154 Tỉnh lộ 8, ấp E, xã T, huyện C để thăm người thân, bị cáo thấy bị cáo L1 làm cái bài cào 06 lá cho mọi người chơi thắng thua bằng tiền, bị cáo đứng xem. Đến khoảng 20 giờ 45 phút thì bị cáo L1 không làm cái và nghỉ chơi, bị cáo B làm cái, bị cáo lấy 2.600.000đ tiền hụi để tham gia đánh bạc, bị cáo chơi 03 ván, mỗi ván 100.000đ. Ván thứ 4 bị cáo đặt cược 100.000đ, bị cáo B chia xong chưa biết ăn thua thì Công an phát hiện, bị cáo ném tiền xuống đất nên không biết thắng hay thua.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn R thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, bị cáo cùng vợ tên Thạch Thị Trúc L đến nhà trọ của bà Trần Thị Dư S1 154 Tỉnh lộ 8, ấp E, xã T, huyện C để thăm người thân, bị cáo thấy bị cáo L1 làm cái bài cào 06 lá cho mọi người chơi thắng thua bằng tiền, bị cáo lấy trong người số tiền 180.000đ để đặt ké tụ của bị cáo B được khoảng 03 ván, mỗi ván 50.000đ. Đến khoảng 20 giờ 45 phút bị cáo L1 không làm cái và nghỉ chơi, bị cáo B làm cái bài cào 06 lá, bị cáo tự đặt tu riêng, bị cáo tham gia 03 ván, mỗi ván 50.000đ. Ván thứ 4 bị cáo đặt cược 50.000đ, bị cáo B chia xong chưa biết ăn thua thì Công an phát hiện, bị cáo ném tiền xuống đất nên không biết thắng hay thua thì bị Công an bắt, thu giữ của bị cáo số tiền 180.000đ là tiền dùng để đánh bạc.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 03/9/2024, bị cáo đi làm về thì thấy bị cáo L1 làm cái bài cào 06 lá cho mọi người chơi thắng thua bằng tiền, bị cáo lấy trong người số tiền 500.000₫ để chơi đánh bạc, bị cáo chơi khoảng 03 ván, mỗi ván 50.000đ. Đến khoảng 20 giờ 45 phút thì bị cáo L1 không làm cái và nghỉ chơi, bị cáo B mượn của bị cáo L1 1.000.000đ để làm cái bài cào 06 lá cho bị cáo cùng với bị cáo L, R, Hội chơi đánh bạc, bị cáo đặt cược 03 ván, mỗi ván 50.000đ. Ván thứ 4 bị cáo đặt cược 50.000đ, bị cáo B chia xong chưa biết ăn thua thì Công an phát hiện, thu giữ của bị cáo số tiền 200.000đ là tiền dùng để đánh bạc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018:

  • Xử phạt các bị cáo Trần Văn B, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R, Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Hoàng G mức án từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm.

  • * Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là lao động nghèo, số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá đang sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 tấm chiếu màu xanh dùng ngồi để đánh bạc;

    • - Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền thu trên chiếu bạc là 5.700.000đ và số tiền thu giữ trong người của các bị cáo L1, G, R dùng để đánh bạc là 1.080.000đ, tổng cộng là 6.780.000đ.

Các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Trần Văn B nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương, bị cáo mong được xem xét xử nhẹ để còn về quê làm ăn lo cho gia đình.

Bị cáo Nguyễn Văn L1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương, bị cáo mong được xem xét xử nhẹ để còn trở về lo cho gia đình.

Bị cáo Thạch Thị Trúc L nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình, khi bị bắt bị cáo mới biết việc đánh bạc ăn thua bằng tiền bị pháp luật cấm, bị cáo mong được xem xét xử nhẹ để còn trở về lo cho 03 con nhỏ.

Bị cáo Nguyễn Văn R nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương, khi bị bắt bị cáo mới biết việc đánh bạc ăn thua bằng tiền bị pháp luật cấm, bị cáo mong được xem xét xử nhẹ để còn trở về lo cho 03 con nhỏ.

Bị cáo Nguyễn Hoàng G nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương, bị cáo mong được xem xét xử nhẹ để còn trở về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức chơi bài cào 06 lá do bị cáo B làm cái với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.080.000đ, bị cáo Nguyễn Văn L1 có hành vi giúp sức cho bị cáo Trần Văn B phạm tội. Bằng hành vi trên thì các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo ý thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích thỏa mãn lợi ích của cá nhân các bị cáo mà các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét cần xử lý các bị cáo bằng hình phạt nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng.

Trong vụ án này, bị cáo B là người đứng ra làm cái cho các bị cáo khác đánh bạc. bị cáo L1 là đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo B phạm tội bằng cách cho bị cáo B mượn tiền đánh bạc. Do đó Hội đồng xét xử xét cần xử lý bị cáo B và bị cáo L1 mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có trình đồ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i,s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét lượng hình cho các bị cáo là có căn cứ.

Xét các bị cáo Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian được tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng; bị cáo Trần Văn B hiện đang nuôi 01 con sinh ngày 29/5/2020 và 01 con sinh ngày 13/10/2024. Xét các bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân và nếu không buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G có đủ điều kiện quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp quy định pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo là lao động nghèo, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử xét không cần phạt bổ sung các bị cáo là phạt tiền theo theo quy định tại Khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá đang sử dụng và 01 tấm chiếu màu xanh. Đây là công cụ, phượng tiện phục vụ cho việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét tịch thu tiêu hủy;

  • - Số tiền ngân hàng N1 là 5.700.000đ là số tiền dùng vào việc đánh bạc, Hội đồng xét xử xét tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

  • - Số tiền ngân hàng Nhà nước 700.000đ thu giữ trên người của bị cáo L1, 180.000đ thu giữ trên người của bị cáo R và 200.000đ thu giữ trên người của bị cáo G đều sử dụng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử xét tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

  • - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 màu đỏ thu giữ của Nguyễn Văn R, không liên quan đến hành vi đánh bạc, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho R, Hội đồng xét xử xét xử lý nêu trên là phù hợp nên không xét;

  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen-xám-đỏ, biển số: 68B1-280.25, số khung: 1710HY150193, số máy: E3T6E221744 thu giữ của Nguyễn Văn L1. Qua xác minh biển số, số khung, số máy của xe trùng khớp với biển số, số khung, số máy trong giấy đăng ký xe. Chủ xe là bà Huỳnh Thị T5, sinh năm: 1978, ngụ tại ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Bà T5 cho biết chiếc xe máy nêu trên do bà T5 đứng tên chủ sở hữu, bà T5 đã bán cho chú họ là Nguyễn Văn L1, ông L1 đang sử dụng. Chiếc xe máy này bà T5 mua vào năm 2017 với giá 18.000.000đ, năm 2022 bán lại cho ông L1 với giá 5.000.000đ. Khi bán cho ông L1, bà T5 và ông L1 không làm thủ tục công chứng theo quy định vì là bà con dòng họ trong nhà. Do bà T5 đã bán chiếc xe trên cho ông L1 nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C lại cho ông L1 bà không có ý kiến gì, Hội đồng xét xử xét xử lý nêu trên là phù hợp nên không xét.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này còn có người tên Lê Thành H1 cùng tham gia đánh bạc, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng đã bỏ trốn, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ban hành Quyết định truy nã số 164/QĐTN-ĐCSHS ngày 09/01/2025 và Quyết định tách vụ án hình sự số 165/QĐ-ĐCSHS ngày 09/01/2025. Đối với Nguyễn Đức T2 và Trần Thị D có hành vi cho các bị cáo dùng phòng trọ để đánh bạc, ông T2 và bà D không biết các bị cáo đánh bạc ăn thua bằng tiền nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chỉ xử lý hành chính. Hội đồng xét xử xét các xử lý trên là phù hợp nên không xét.

Đối với các đối tượng có mặt tại sòng bạc gồm: Trần Văn Á và Trần Thị T4 có mặt tại sòng bạc nhưng không tham gia đánh bạc, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C chuyển Công an xã T, huyện C để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018:

    Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018:

    Xử phạt bị cáo Thạch Thị Trúc L 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  6. Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 (Năm mươi hai) lá đang sử dụng, 01 (Một) bộ bài tây 52 (Năm mươi hai) lá đã qua sử dụng và 01 (Một) tấm chiếu màu xanh dùng ngồi để đánh bạc;

    • (Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 2236/LNK-ĐCSHS ngày 24/12/2024 (bút lục số 454) và Phiếu nhập kho vật chứng số 36/PNK-ĐCSHS ngày 26/12/2024 (bút lục số 455) của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C).

    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.780.000đ (Sáu triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng).

    • (Vật chứng nêu trên được liệt kê tại Phiếu thu số 01, ngày 26/12/2024 của Công an huyện C).

  7. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đa Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

  8. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Văn L1, Thạch Thị Trúc L, Nguyễn Văn R và Nguyễn Hoàng G).

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger