Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày: 13/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương;

Các Hội thẩm nhân dân.

  • - Bà Nguyễn Thị Huệ - Giáo viên đã nghỉ hưu
  • - Bà Nguyễn Thị Phú – Giáo viên đã nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử công khai trực tuyến tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B và Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Huy H, sinh ngày 19/07/2007;

HKTT: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ Nguyễn Văn H1 và mẹ đẻ Quản Thị H2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/12/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28 về hành vi “Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản” bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng. Ngày 23/02/2024, chấp hành xong việc nộp phạt.

Nhân thân: Tại Bản án số: 270/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Quản Thị H2 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt.

Người bào chữa và là người đại diện theo ủy quyền của bố mẹ bị cáo: Ông Nguyễn Văn H3 – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh – có mặt.

Người bị hại:

  1. Chị Lương Thị N, sinh năm 2000; địa chỉ: Xã L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt;
  2. Anh Nguyễn Duy S, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Đặng Văn T, sinh ngày 06/4/2009; địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của T: Ông Đặng Văn T1 và bà Quản Thị B; địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Kim S1 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh – có mặt;
  2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/12/2024, Nguyễn Huy H và Đặng Văn T đến thuê phòng trọ số 33 tại tầng 04 nhà ông Nguyễn Văn B1 ở khu phố D, phường P, thị xã Q. Tại khu vực để xe tại tầng 1 của khu trọ, H và T thấy có một số xe mô tô đang để ở đây, do thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên H rủ T trộm cắp xe mô tô để bán, T đồng ý. Đến khoảng 02 giờ ngày 09/12/2024, H và T đi xuống khu vực để xe tại tầng 1 kiểm tra thì thấy 01 xe mô tô Honda Vision, màu đen (dán đề can màu trắng – đen), BKS: 36AH-012.70 và 01 xe mô tô Honda Vision, màu đỏ nâu, BKS: 37P1-542.44 đều không khoá cổ. Lúc này, H dắt xe mô tô BKS: 36AH-012.70 ra đến cửa cổng khu trọ thì dừng xe lại chờ, đồng thời quay lại đẩy xe mô tô BKS: 37P1-542.44 cùng T. Sau đó, H mở cửa cổng bằng vân tay, do không có chìa khoá xe mô tô nên H dắt xe mô tô BKS: 36AH-012.70, T dắt xe mô tô BKS: 37P1-542.44 ra khỏi khu trọ đến quán Internet ở khu phố D, phường P, thị xã Q. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày 09/12/2024, H và T dắt 02 xe mô tô trộm cắp được sang khu phố C, phường V, thành phố B ngồi chơi rồi gặp một thợ sửa khoá đi ngang đường. H và T đánh chìa khoá của 02 xe mô tô vừa trộm cắp được rồi T điều khiển xe mô tô BKS: 37P1-542.44 đi hướng về thành phố Hà Nội chơi còn H điều khiển xe mô tô BKS: 36AH-012.70 về quán Internet ở khu phố D, phường P, thị xã Q.

Ngày 13/12/2024, chị Lương Thị N và anh Nguyễn Duy S có đơn trình báo đến cơ quan công an về việc chị N bị kẻ gian trộm cắp mất 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu đen (dán đề can màu trắng – đen), BKS: 36AH-012.70 và anh S bị kẻ gian trộm cắp mất 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu đỏ nâu, BKS: 37P1-542.44.

Ngày 14/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q triệu tập Nguyễn Huy H và Đặng Văn T đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H và T đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô Honda Vision, màu đen (dán đề can màu trắng – đen), BKS: 36AH-012.70 và 01 xe mô tô Honda Vision, màu đỏ nâu, BKS: 37P1-542.44.

Trên cơ sở Yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q. Tại Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Q kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 37P1-542.44 màu đỏ nâu, số khung: RLHJF5818GY844957, số máy: JF66EO582969 (đã qua sử dụng) tại thời điểm tháng 12/2024 có giá 10.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36AH-012.70 màu đen, số khung: RLHJK0331PZ107035, số máy: JK03E4908094 tại thời điểm tháng 12/2024 có giá 25.000.000 đồng”.

Đối với 02 chiếc xe mô nêu trên, quá trình điều tra xác định 02 xe mô tô trên: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu, BKS 37P1-542.44 chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996, HKTT: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là chị ruột anh Nguyễn Duy S, cho anh S mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, BKS 36AH-012.70 chủ sở hữu là chị Lương Thị N nên ngày 21/01/2025 cơ quan CSĐT công an thị xã Q đã trả lại xe mô tô trên cho chị L, chị N nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Do Đặng Văn T khi thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản thuộc trường hợp ít nghiêm trọng khi 15 tuổi 08 tháng 03 ngày nên không đủ tuổi để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an phường P, thị xã Q ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo.

Quá trình điều tra, Nguyễn Huy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKSQV ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận, cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như qua xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS; Điều 12,

Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt: Bị cáo H từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Huy H nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

Tranh luận với vị Đại diện Viện kiểm sát, ông Nguyễn Văn H3 - người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H phát biểu: Nhất trí với vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Bị cáo H tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình. Do vậy đề nghị HĐXX áp dụng các quy định pháp luật đối với người phạm tội dưới 18 tuổi cho các bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, làm lại cuộc đời.

Đại diện VKS tham gia đối đáp với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đối với tội danh do người bào chữa cũng cùng quan điểm nên đại diện VKS không có ý kiến. Mức hình phạt VKS đề nghị là tương ứng với tính chất và mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra, viện kiểm sát, kiểm sát viên đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không bị khiếu nại nên xác định hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 09/12/2024, tại khu trọ của ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1953 ở khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Huy H và Đặng Văn T có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu, BKS 37P1-542.44 trị giá 10.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị L và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, BKS 36AH-012.70 trị giá 25.000.000 đồng của chị Lương Thị N. Tổng giá trị tài sản bị cáo H và Đặng Văn T thực hiện trộm cắp trị giá là 35.000.000 đồng. Khi thực hiện việc trộm cắp Đặng Văn T mới 15 tuổi 08 tháng 03 ngày do vậy không đủ tuổi để xử lý trách nhiệm hình sự. Nguyễn Huy H khi phạm tội là 17 tuổi 04 tháng 20 ngày. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng H4 đã phạm tội phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hành phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có 01 tiền sự và đang trong thời gian chấp hành hình phạt án treo của Bản án số: 270/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Quá trình điều tra, bị cáo đã đến Công an thị xã Q đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện giao nộp lại tài sản trộm cắp nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Do bị cáo phạm tội mới trong thời gian chấp hành hình phạt của Bản án số: 270/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nên cần chuyển hình phạt án treo sang hình phạt tù của bản án nêu trên và tổng hợp hình phạt với bản án mới.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Hoàng H4 không có tài sản riêng, bị cáo dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đã xác định 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu, BKS 37P1-542.44 chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996, HKTT: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là chị ruột anh Nguyễn Duy S, cho anh S mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, BKS 36AH-012.70 chủ sở hữu là chị Lương Thị N nên ngày 21/01/2025 cơ quan CSĐT công an thị xã Q đã trả lại xe mô tô trên cho chị N, chị L. Chị N và chị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy, HĐXX không xem xét.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với Đặng Văn T khi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên công an phường P xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS; Điều 12, Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Huy H 17 tháng tù. Chuyển hình phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số: 270/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thành 08 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành của 02 bản án là 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/12/2024 được trừ thời giam đã tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 04/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về Trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng H4 phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

5. Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

TP - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 17 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger