|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2025/HS-ST
Ngày 09 tháng 6 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Anh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Chúc và ông Lê Minh Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn K, sinh năm 1991 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Phùng Thị C; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 57 ngày 30/6/2011 của TAND TP Vĩnh Yên xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 10 tháng về tội Đánh bạc. Chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 06 ngày 08/01/2020 của TAND thành phố Vĩnh Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/7/2020, nộp tiền án phí tháng 02/2020, đã được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 115 ngày 16/9/2021 của TAND thành phố Vĩnh Yên xử phạt 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/6/2022, nộp tiền án phí ngày 12/11/2021, đã được xóa án tích.
Tại quyết định xử phạt hành chính số 06 ngày 08/01/2021 của Công an thành phố V xử phạt 2.500.000₫ về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, đã nộp phạt ngày 01/02/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh V (Có mặt).
2. Phạm Ngọc Q, sinh năm 1995 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị C1; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2015/HSST ngày 23/4/20215 của TAND thành phố Vĩnh Yên xử phạt 02 năm 05 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017, chấp hành xong hình phạt tiền, án phí đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh V (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Ngọc Q đã sử dụng ma túy tổng hợp dạng “đá” và dạng “ngựa” từ khoảng tháng 10/ 2014. Buổi tối ngày 26/12/2024, Quyền đến nhà anh họ là Trần Văn K chơi thấy K có ma túy nên Q hỏi xin để sử dụng, K cho Q 01 túi nilon bên trong có ma tuý đá và 02 viên ma túy ngựa. Sau khi xin được ma túy Q đi ra ngã tư đường giao nhau giữa đường T và đường N gọi điện thoại cho anh rể là Đinh Công T1 (Sinh năm 1989, HKTT: TDP T, phường K, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc) nhờ đến đón Q đưa về khách sạn H3 ở TDP V, phường K, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đi đến khu vực hành lang tầng 1 gần thang máy và lễ tân khách sạn H3 thì tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V phát hiện, kiểm tra. Phạm Ngọc Q hoảng sợ ném túi nilon chứa chất ma túy xuống nền nhà rồi bỏ chạy đến khu vực trước bàn lễ tân thì bị khống chế bắt giữ, Cơ quan điều tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: T2 tại nền nhà khách sạn một túi nilon màu trắng bên trong có chứa các tinh thể dạng đá màu hồng và 02 (hai) viên nén hình trụ tròn màu hồng. Q khai nhận túi nilon trên chứa ma túy đá và ma túy ngựa của Q cất giấu để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu A1. T2 tại túi quần phía trước bên phải của Q đang mặc một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A10, màu xanh, IMEI 1: 357186104880428, IMEI 2: 357187104880426, lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0869.162.xxx, màn hình đã bị vỡ. Kiểm tra người Đinh Công T1 không thu giữ đồ vật tài sản gì.
Cơ quan điều tra đã thu giữ khoảng 20ml nước tiểu của Quyền ký hiệu B1, thu giữ khoảng 20ml nước tiểu của T1 ký hiệu B2.
Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã triệu tập Trần Văn K. Tại Cơ quan điều tra K khai nhận bản thân sử dụng ma túy đá, ma túy ngựa từ tháng 10 năm 2024. Ngày 26/12/2024, K mua của một người đàn ông tên là H1 (không rõ tên tuổi địa chỉ) ở khu vực bến xe V thuộc phường K, thành phố V với giá 900.000₫ được 01 túi ma túy đá và 04 viên ma túy ngựa. Sau khi mua được ma túy, K chia thành 02 túi ma túy đá. Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2024, Phạm Ngọc Q là em họ đến nhà chơi thấy K có ma túy nên xin để sử dụng, K đã cho Q 01 túi ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa, số ma túy còn lại được đựng trong 01 túi nilon bên trong chứa ma túy tổng hợp dạng đá và 02 viên viên ma túy ngựa chưa kịp sử dụng Khương giao nộp cho Cơ quan điều tra được niêm phong ký hiệu A2. Thu giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số IMEI: 354974085083230 gắn sim điện thoại số thuê bao 0354.892.xxx, 01 điện thoại di động Redmi Note 7, số IMEI1: 865349048345578, số IMEI2: 865349048625573 gắn sim số thuê bao 0932235325 và sim số thuê bao 0961625230. Thu giữ khoảng 20ml nước tiểu của K, niêm phong ký hiệu B3.
Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 1206 ngày 27/01/2024 và tiến hành khám xét chỗ ở của Trần Văn K tại TDP M, phường K, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan điều tra ra quyết định số 3394, 3395, 3396, 3397 cùng ngày 27/12/2024, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V, giám định chất ma túy đã thu giữ niêm phong ký hiệu A1 thu giữ của Phạm Ngọc Q, mẫu A2 thu giữ của Trần Văn K và mẫu nước tiểu thu giữ của Q, T1 ký hiệu B1, B2.
Tại kết luận giám định số 3857/KLGĐ ngày 31/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận:
“Tinh thể dạng đá màu trắng có trong của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1579g (không phẩy một năm bảy chín gam không kể bao bì), loại Methamphetamine.
02 (hai) viên nén màu hồng có trong của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1952g (không phẩy một chín năm hai gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine”.
H2 lại đối tượng giám định: Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 tinh thể = 0,0729 gam mẫu và A1 viên nén = 0,0817 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.
Tại kết luận giám định số 3862/KLGĐ-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận:
“02 (hai) viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1917g (Không phẩy một chín một bảy gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
Tinh thể thể dạng đá màu hồng có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5569g (Không phẩy năm năm sáu chín gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine”.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng còn lại sau giám định A2 còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A2 = 0,1505 gam mẫu viên nén + 0,4876 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói của mẫu A2 được niêm phong chung trong một báo gói giấy “MẪU TRẢ 3504” theo đúng quy định.
Tại Kết luận giám định số 50A/KLGĐ ngày 04/01/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Phạm Ngọc Q, sinh năm: 1995, HKTT: TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (ký hiệu B1) gửi đến giám định.
Tại Kết luận giám định số 62/KLGĐ ngày 04/01/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Không phát hiện thành phần chất ma túy (H, M, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2 C- B, TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Đinh Công T1, sinh năm: 1989, HKTT: TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (ký hiệu B2) gửi đến giám định.
Ngày 30/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 3450/QĐ-CSMT tiến hành giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Trần Văn K được niêm phong vào trong chai nhựa ký hiệu B3. Tại Kết luận giám định số 100/KLGĐ ngày 07/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Trần Văn K, sinh năm: 1991, HKTT: TDP M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (ký hiệu B3) gửi đến giám định.
Kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Phạm Ngọc Q, 02 điện thoại di động thu giữ của Trần Văn K không phát hiện dữ liệu có liên quan đến hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của Q và K, không có hành vi vi phạm pháp luật khác.
Đối với Đinh Công T1 được Phạm Ngọc Q nhờ chở đến khách sạn H3 không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma tuý của Quyền do vậy không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông tên là H1 (không rõ tên tuổi địa chỉ) ở khu vực bến xe V bán ma túy cho K không có lai lịch cụ thể do vậy không có cơ sở để xác minh, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi Trần Văn K cho Phạm Ngọc Q ma túy để sử dụng nhưng Q chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, do vậy hành vi của K không cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS-P1 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Văn K và Phạm Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc luận tội đối với các bị cáo; giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn K và Phạm Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2024.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gồm: A1 tinh thể = 0,0729 gam mẫu và A1 viên nén = 0,0817 gam; A2 = 0,1505 gam mẫu viên nén + 0,4876 gam mẫu tinh thể.
- Trả lại Phạm Ngọc Q điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 lắp sim điện thoại số thuê bao 0869.162.xxx; trả lại Trần Văn K 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus lắp sim điện thoại số thuê bao 0354.892.xxx và 01 điện thoại di động Redmi Note 7 lắp sim số thuê bao 0932235325 và sim số thuê bao 0961625230 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Bị cáo có quan điểm: Hoàn toàn nhất trí với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quyết định mức án thấp nhất tạo điều kiện cải tạo nhanh chóng hòa nhập xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định của cơ quan chuyên môn... và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để xác định:
Trần Văn K là đối tượng sử dụng ma túy. Ngày 26/12/2024, K mua của một người đàn ông tên là H1 (không rõ tên tuổi địa chỉ) ở khu vực bến xe V thuộc phường K, thành phố V 01 túi ma túy đá và 04 viên ma túy ngựa với giá 900.000đ, sau đó K chia thành 02 túi. Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2024, Phạm Ngọc Q, là em họ đến chơi thấy K có ma túy nên xin để sử dụng, K đã cho Q 01 túi ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa, số ma túy còn lại K cất giấu để sử dụng. Sau khi xin được ma tuý, Q nhờ anh rể là Đinh Công T1 chở đến khách sạn H3 ở TDP V, phường K, TP V, khi đi đến khu vực hành lang tầng 1 gần thang máy và lễ tân khách sạn H3 thì tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V bắt quả tang thu giữ 01 túi ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa, theo kết luận giám định có tổng khối lượng 0,3531gam ma tuý Methamphetamine. Tại Cơ quan điều tra Trần Văn K đã giao nộp 01 túi ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa, theo kết luận giám định có tổng khối lượng 0,7486g Methamphetamine. Như vậy Trần Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng 1,1017gam ma túy Methamphetamine.
[3]. Trần Văn K mua trái phép chất ma túy để sử dụng, không nhằm mục đích vận chuyển hoặc bán lại cho người khác, sau đó em họ của K là Phạm Ngọc Q đến nhà chơi thì được K cho để sử dụng và bị phát hiện, bắt giữ. Quyền không trả tiền cũng như trao đổi lợi ích khác với K để lấy ma túy. Ma túy qua giám định được xác định là Methamphetamine dạng viên nén và tinh thể đá, lượng ma túy Trần Văn K tàng trữ là 1,1017gam và lượng ma túy Phạm Ngọc Q sử dụng là 0,3531gam. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe nhân phẩm của con người, dẫn con người đến đời sống đồi trụy, phá hoại hạnh phúc gia đình, làm xói mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời ma túy còn là nguyên nhân, phát sinh nhiều loại tệ nạn, nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Tội phạm về ma túy hiện nay trong cả nước nói chung cũng như tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng xảy ra nhiều và ngày càng diễn biến phức tạp gây nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Cần xét xử nghiêm các bị cáo nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trần Văn K và Phạm Ngọc Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo Q có bố đẻ là ông Phạm Ngọc T được tặng thưởng Huân Chương kháng chie bằng khen “Đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc” của Bộ trưởng Bộ Q1 năm 1986 do vậy được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên các bị cáo K và Q đều là người có nhân thân xấu: Bị cáo K đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội Đánh bạc năm 2011, tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản năm 2020 và năm 2021; đã bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác năm 2021: bị cáo Q đã bị Tòa án xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy năm 2015 nay lại tiếp tục phạm tội về ma túy. Mặc dù các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và quyết định xử phạt của các bản án, quyết định xử phạt hành chính trên, đã được xóa án nên không coi là tiền án để áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định của pháp luật, nhưng qua đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo chưa cao. Sau khi cân nhắc, xem xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ thực hiện tội phạm, trọng lượng ma túy và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù theo như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy còn lại sau giám định được hoàn lại và toàn bộ bao gói được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với các điện thoại di động đã thu giữ của Trần Văn K và Phạm Ngọc Q: Quá trình điều tra xác định vì không liên quan đến việc thực hiện tội phạm cần trả lại cho các bị cáo là chủ sử hữu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn K và Phạm Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Văn K 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy mẫu ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gồm: A1 tinh thể = 0,0729 gam mẫu và A1 viên nén = 0,0817 gam; A2 = 0,1505 gam mẫu viên nén = 0,4876 gam mẫu tinh thể.
- - Trả lại Phạm Ngọc Q điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10; trả lại Trần Văn K 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus và 01 điện thoại di động Redmi Note nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy và trả lại có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/05/2025 giữa Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Trần Văn K và Phạm Ngọc Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Anh Cường |
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K và anh em họ mua ma túy để sử dụng
