|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày: 03-4-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Thân Thị Tuyết Nhung
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Xuân Vượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Gia K, sinh năm 2004 tại tỉnh Quảng Ninh; Địa chỉ đăng ký thường trú và nơi ở: Tổ F, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 06/12; Bố: Phạm Văn Đ, sinh năm 1976; Mẹ: Phạm Thị M, sinh năm 1979; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
-
- Bị hại: Ông Hà Huy T, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Công P, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Bà Trần Thị M1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Đều địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- Ông Phí Văn Đ1, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/01/2025, Phạm Gia K đi xe khách từ thành phố U, tỉnh Quảng Ninh đến thành phố B, tỉnh Bắc Giang tìm việc làm. Đến khoảng 01 giờ ngày 04/01/2025, K đi bộ đến khu vực gần nhà ông Hà Huy T tại số nhà D, đường X, phường N, thành phố B, phát hiện 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry màu xanh, biển kiểm soát 29A-947.33 (loại xe 4 chỗ ngồi, sản xuất năm 1988) đỗ ở trên vỉa hè khu vực gần trước cửa nhà ông T. Khiêm quan sát thấy xe ô tô không khóa cửa nên mở cửa trước bên phụ rồi ngồi vào trong xe, thấy chìa khoá xe vẫn cắm ở ổ khoá điện nên đã nảy ý định trộm cắp xe. Sau đó, K điều khiển xe đi về tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn tại khu vực thôn H, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, xe bị hỏng không đi được. K đi vào quán phở của vợ chồng ông Đào Công P và bà Trần Thị M1 ăn sáng. Tại đây, K bảo bà M1, ông P tìm giúp cửa hàng thu mua sắt vụn để K bán xe ô tô trên. Ông P gọi điện cho anh Phí Văn Đ1 làm nghề thu mua sắt vụn đến gặp K để giao dịch. Sau đó, anh Đ1 đi đến quán phở của ông P, bà M1 gặp K và K nói dối là xe ô tô là của K do đời sâu nên muốn bán với giá rẻ. Anh Đ1 xem xe ô tô, kiểm tra giấy tờ rồi đồng ý mua với giá 9.000.000 đồng. K nhờ bà M1 viết hợp đồng bán xe ô tô cho anh Đ1 rồi K ký tên vào mục người bán và nhận tiền. Số tiền bán xe, K đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 06/01/2025, K đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 337/KL-HĐ ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Toyota, loại Camry màu sơn xanh, sản xuất năm 1988, biển kiểm soát 29A-947.33 trị giá là 30.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trong hợp đồng mua bán xe ô tô do anh Phí Văn Đ1 giao nộp. Kết luận giám định số 181/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “K - Phạm Gia K” dưới mục bên bán “Bên bán (Bên A)” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Gia K trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2) do cùng một người ký, viết ra
Tại Bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 04 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Phạm Gia K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Gia K khai nhận diễn biến sự việc như bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận đã trộm cắp xe ô tô nhãn hiệu Toyota biển kiểm soát 29A- 947.33 của ông T và bán cho anh Đ1 được 9.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý với tội danh, điều, khoản Viện kiểm sát truy tố.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Gia K từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa và 01 áo khoác đã qua sử dụng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
-
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án, đã có lời khai thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và không ai có yêu cầu gì, nên vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.
-
Về tội danh:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ xác định:
Ngày 04/01/2025, Phạm Gia K trộm cắp xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Camry màu xanh, biển kiểm soát 29A- 947.33 thuộc quyền quản lý của ông Hà Huy T trị giá 30.000.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Tài sản trộm cắp trị giá 30.000.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
-
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
- Tuy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú và có tiền sử sử dụng trái phép chất ma túy, có nguy cơ phát sinh tội phạm. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát để ngăn ngừa tội phạm, cũng như để giáo dục, răn đe bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự như theo đề nghị của Viện kiểm sát.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Hà Huy T, ông Phí Văn Đ1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Camry màu xanh, biển kiểm soát 29A-947.33 cùng giấy tờ xe, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T (chủ quản lý hợp pháp) là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 đôi dép nhựa và 01 áo khoác đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Vấn đề khác:
Anh Phí Văn Đ1 mua xe ô tô biển kiểm soát 29A - 947.33, ông Đào Công P giới thiệu anh Đ1 mua xe, bà Trần Thị M1 giúp viết hợp đồng mua bán xe ô tô nhưng đều không biết nguồn gốc tài sản do K trộm cắp nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh Đ1, ông P, bà M1.
Phiếu kết quả xét nghiệm ma túy ngày 06/01/2025 thể hiện K dương tính với chất ma túy “MET”, “AMP”. K khai ngày 02/01/2025, có mua ma túy của người không quen biết tại huyện T, thành phố Hải Phòng rồi đem về nhà sử dụng. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K đến Công an phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Gia K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2025.
-
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép nhựa màu đen và 01 (một) áo khoác đã qua sử dụng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 50/QĐ-VKS ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kèm theo ngày 20/3/2025).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Hưng |
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm 06 tháng tù
