Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 68/2025/HS-PT

Ngày: 20 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn.

  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Hưng;

  • Ông Ngô Thanh Sỹ.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 473/2024/HS-PT ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Mai Quốc V.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 221/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

  • - Bị cáo có kháng cáo: Mai Quốc V, sinh năm 1992 tại Hậu Giang.

  • Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Hoàng L và bà Nguyễn Thị Thu H; Vợ: Nguyễn Thị Thu T; Có 01 con, sinh năm 2021.

  • Tiền án, tiền sự: Không;

  • Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)

  • - Bị hại:

  • + Anh Kim Duy H1, sinh năm 2001.

  • Nơi đăng ký thường trú: Ấp G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

  • Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

  • + Chị Hồ Ngọc M, sinh năm 2000.

  • Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Quốc V là đối tượng sử dụng ma túy. Vào lúc 09 giờ ngày 14/8/2022 sau khi sử dụng ma túy do bị ảo giác V đi bộ đến trước cổng Trạm y tế xã T, thuộc ấp D, xã T, huyện L. Lúc này V nhặt được 01 cái kéo bằng kim loại nên tự sử dụng và đâm vào người của V gây thương tích cho bản thân. Sau khi tự gây thương tích cho bản thân V cầm kéo đi đến trước cổng Trường mầm non T1 thuộc ấp D, xã T, huyện L, thì gặp chị Hồ Thị H2 đang điều khiển xe mô tô chở phía sau chị Hồ Ngọc M trên tay bế cháu Hồ Nguyễn Hoài B, sinh ngày 04/4/2022 nên V cầm kéo đâm chị H2 nhưng không trúng. Do bị V sử dụng kéo đâm bất ngờ nên chị H2 bị loạng choạng tay lái dẫn đến xe mô tô cùng chị M và bé B té ngã xuống đường thì V liền xông đến dùng kéo đâm nhiều nhát vào người chị M gây thương tích ở vùng má phải, môi dưới, đầu lưỡi, vùng cổ sau, vai trái và vai phải. Chị M vùng bỏ chạy thoát. Cùng lúc này, có anh Kim Duy H1 điều khiển xe mô tô đi ngang qua thì bị V dùng kéo đâm 01 nhát vào vùng lưng trái gây thương tích. Ngày 24/6/2023, chị Hồ Ngọc M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Mai Quốc V về hành vi cố ý gây thương tích. Ngày 24/7/2023, anh Kim Duy H1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Mai Quốc V về hành vi cố ý gây thương tích.

Về vật chứng tạm giữ: 01 cái kéo bằng kim loại màu đen dài 22cm.

* Đối với thương tích của chị Hồ Ngọc M:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1383/TgT/2022 ngày 13/12/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:

    • - Vết biến đổi sắc tố da má phải; Sẹo môi dưới; Sẹo vùng đầu lưỡi; 02 sẹo vùng cổ sau; Sẹo vai phải; Sẹo vai trái.

  2. Kết luận:

    • - Vết biến đổi sắc tố da má phải. Tỷ lệ: 01%.

    • - Sẹo môi dưới trong niêm mạc kích thước 1,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.

    • - Sẹo vùng đầu lưỡi kích thước 02x0,3cm. Tỷ lệ: 01%.

    • - Sẹo vùng cổ sau kích thước 1,5x0,5cm. Tỷ lệ: 02%.

    • - Sẹo vùng cổ sau kích thước 02x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.

    • - Sẹo vai phải kích thước 1,2x0,5cm. Tỷ lệ: 01%.

    • - Sẹo vai trái kích thước 0,5x0,3cm. Tỷ lệ: 01%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hồ Ngọc M - 2000 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là 09%.

Tại Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0539/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 21/6/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận:

  1. Các kết quả chính:

    1. Kết quả nghiên cứu hồ sơ:

      • - 02 vết thương ở cổ hiện để lại 02 sẹo kích thước 1,5x0,5cm và 02x0,3cm.

      • - Vết thương môi dưới hiện để lại sẹo kích thước 1,5x0,2cm.

      • - Vết thương lưỡi hiện để lại sẹo kích thước 02x0,3cm.

      • - Vết thương vai phải hiện để lại sẹo kích thước 1,2x0,5cm.

      • - Vết thương vai trái hiện để lại sẹo kích thước 0,5x0,3cm.

      • - Vết thương gò má phải hiện diện để lại vết biến đổi sắc tố da gò má phải (má phải) kích thước 01x0,12cm.

    2. Kết quả nghiên cứu mẫu vật, thực nghiệm, hội chẩn: Không.

    3. Kết quả khác: Không.

  2. Kết luận:

    • - Cơ chế hình thành vết thương của Hồ Ngọc M – sinh năm 2000.

    • + 02 vết thương cổ hiện để lại 02 sẹo kích thước 1,5x0,5cm và 02x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động với lực nhẹ vùng cổ theo hướng từ sau ra trước hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

    • + Vết thương môi dưới hiện để lại sẹo kích thước 1,5x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng môi dưới với lực nhẹ theo hướng từ trước ra sau, hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

    • + Vết thương lưỡi hiện để lại sẹo kích thước 02x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng miệng với lực nhẹ theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

    • + Vết thương gò má phải hiện để lại vết biến đổi sắc tố da gò má phải (má phải) kích thước 01x0,12cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động với bề mặt da gây nên. vào vùng má phải với lực nhẹ theo hướng từ phải sang trái hoặc gần song song

    • + Vết thương vai phải hiện để lại sẹo kích thước 1,2x0,5cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng vai phải với lực nhẹ theo hướng từ trên xuống dưới hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

    • + Vết thương vai trái hiện để lại sẹo kích thước 0,5x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng vai trái với lực nhẹ theo hướng từ sau ra trước hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

    • - Đối với vết thương của Hồ Ngọc M nếu không cấp cứu kịp thời có dẫn đến tử vong hay không.

    • Với các tổn thương: 02 vết thương cổ, vết thương môi dưới, vết thương lưỡi, vết thương gò má phải, vết thương vai phải, vết thương vai trái. Bệnh nhân Hồ Thị Ngọc M vào viện trong tình trạng: Bệnh tỉnh, Mạch 102 lần/ phút; Nhiệt độ 37°C; Huyết áp 110/70mmHg; Nhịp thở 20 lần/phút. Như vậy các tổn thương của bệnh nhận Hồ Ngọc M thuộc loại cấp cứu có trì hoãn nếu không cấp cứu kịp thời thì ngay lập tức không gây tử vong.

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 0551/KLVGTT-TTPYĐN ngày 21/6/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định cây kéo mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L gửi đến giám định có thể gây ra thương tích của Hồ Ngọc M.

* Đối với thương tích của anh Kim Duy H1:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1382/TgT/2022 ngày 13/12/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:

    • - Sẹo lưng trái; Sẹo mổ lưng trái.

  2. Kết luận:

    • - Sẹo lưng trái kích thước 2,5x0,4cm. Tỷ lệ: 01%.

    • - Sẹo mổ lưng trái kích thước 01x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Kim Duy H1 - 2001 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là 02%.

Tại Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0538/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 20/6/2024 của Trung tâm P - Sở Y tế tỉnh Đ kết luận:

  1. Các kết quả chính:

    • - Kết quả nghiên cứu hồ sơ: Sẹo lưng trái kích thước 2,5x0,4cm.

    • - Kết quả nghiên cứu mẫu vật, thực nghiệm, hội chẩn: Không.

    • - Kết quả khác: Không.

  2. Kết luận:

    • - Cơ chế hình thành vết thương của Kim Duy H1– sinh năm 2001.

    • Vết thương để lại sẹo lưng trái kích thước 2,5x0,4cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng lưng trái với lực vừa đủ theo hướng từ sau ra trước hoặc song song với bề mặt da gây nên.

    • - Đối với vết thương của anh Kim Duy H1 nếu không cấp cứu kịp thời có dẫn đến tử vong hay không?

    • Với tổn thương của nạn nhân và vào viện trong tình trạng: Bệnh tỉnh, niêm hồng. Mạch 84 lần/phút; Nhiệt độ 37°C; Huyết áp 120/70mmHg; Nhịp thở 18 lần/phút, thuộc loại cấp cứu có trì hoãn ngay lập tức sẽ không ảnh hưởng đến tính mạng nạn nhân Kim Duy H1.

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 0550/KLVGTT-TTPYĐN ngày 20/6/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định cây kéo có thể gây ra được thương tích của nạn nhân Kim Duy H1.

* Đối với năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bị cáo Mai Quốc V:

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần 258/KL-VPYTW ngày 25/4/2024 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B1 kết luận:

  1. Kết luận:

    • - Về y học:

    • + Trước, trong, sau khi gây án: Đương sự bị nhiễm độc cấp do sử dụng chất kích thích (F15.0-ICD.10).

    • + Hiện nay: Đương sự bị nhiễm độc cấp do sử dụng chất kích thích, ổn định hoàn toàn.

    • - Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:

    • + Tại thời điểm gây án: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

    • + Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

  2. Ý kiến khác: Không.

3. Địa điểm, thời gian hoàn thành việc giám định: 11 giờ 00 ngày 25/4/2024.

  • + Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố chị Hồ Ngọc M yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 12.000.000 đồng và anh Kim Duy H1 yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho chị M và anh H1.

  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 221/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38, Điều 47, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ các Điều 106, 136, 327, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Mai Quốc V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Mai Quốc V 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/9/2024 bị cáo Mai Quốc V có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Mai Quốc V tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ nào đặt biệt mới, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo Mai Quốc V không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Mai Quốc V làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  • [2] Về tội danh:

  • Tại phiên tòa, bị cáo Mai Quốc V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

  • [3] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa bị cáo dẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy.

  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mai Quốc V xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào đặc biệt mới so với phiên tòa sơ thẩm.

  • Hội đồng xét xử xét thấy, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường Í; đã thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại H1 rút yêu cầu khởi tố vụ án, bị hại M đề nghị giảm nhẹ hình phạt để áp dụng điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và tuyên xử bị cáo Mai Quốc V với mức án 08 (tám) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  • [4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

  • [5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  • [6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Quốc V; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 221/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38, Điều 47, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Mai Quốc V 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mai Quốc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

(Đã ký)

Nguyễn Trung Hưng – Ngô Thanh Sỹ

Võ Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 68/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Quốc V phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger