Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG


Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/6/2025

V/v: “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong
  • Các hội thẩm nhân dân:Ông Đinh Văn Cương
  • Ông Nguyễn Ngọc Sơn
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 131/2025/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13/6/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Dương Thị Đ, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn P, xã Đ' N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Lô Thanh T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Dương Thị Đ:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lô Thanh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 21/3/2007.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng cũng đã nhiều lần nói chuyện để tìm cách có thể hiểu nhau hơn, giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng không được, tình cảm vợ chồng không được cải thiện, không khí gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏi kéo dài, khiến cả hai vợ chồng đều cảm thấy mệt mỏi, ảnh hưởng đến con cái, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lô Thanh T.

Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 02 con chung là Lô Dương Quỳnh N, sinh ngày 20/01/2008 và Lô Gia B, sinh ngày 28/4/2010. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao cháu N cho bà và giao cháu B cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lô Thanh T: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Dương Thị Đ về việc ly hôn với ông Lô Thanh T. Giao con chung là cháu L Dương Quỳnh N, sinh ngày 20/01/2008 cho bà Dương Thị Đ và giao cháu Lô Gia B, sinh ngày 28/4/2010 cho ông Lô Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con chung; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Dương Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lô Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Đ và ông Lô Thanh T xây dựng gia đình với nhau năm 2007, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 21/3/2007. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân của bà Đ và ông T là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà Đ khởi kiện ly hôn.

Xét thấy, vợ chồng bà Đ, ông T phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay và không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T tiến hành hòa giải nhằm để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng ông T vắng mặt không có lý do, bỏ mặc việc ly hôn của bà Đ, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân này.

Do quan hệ hôn nhân giữa bà Đ với ông T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ, giải quyết cho bà Đ và ông T được ly hôn là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Bà Dương Thị Đ và ông Lô Thanh T có 02 con chung là Lô Dương Quỳnh N, sinh ngày 20/01/2008 và Lô Gia B, sinh ngày 28/4/2010. Bà Đ yêu cầu giao cháu Lô Dương Quỳnh N, sinh ngày 20/01/2008 cho bà và giao cháu Lô Gia B, sinh ngày 28/4/2010 cho ông Lô Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con chung; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, cháu N có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ và cháu B có đơn trình bày nguyện vọng được ở với bố. Hơn nữa, cháu N là nữ, cháu B là N1. Do đó, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục và nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các cháu, nên cần giao cháu N cho bà Đ và giao cháu B cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con chung là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu, nên không đặt ra để xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị Đ xác định không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; trong khi đó ông Lô Thanh T vắng mặt không trình bày về tài sản chung và nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[3] Về án phí: Buộc bà Dương Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của bà Dương Thị Đ, xử cho bà Dương Thị Đ và ông Lô Thanh T được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung Lô Dương Quỳnh N, sinh ngày 20/01/2008 cho bà Dương Thị Đ và giao con chung Lô Gia B, sinh ngày 28/4/2010 cho ông L Thanh Thảo có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con chung. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về án phí: Buộc bà Dương Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005321 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Bà Dương Thị Đ đã nộp đủ án phí.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Sơn – Đinh Văn CươngPhạm Phước Minh Phong

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND H. Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS H. Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phi Tô, H. Lâm Hà;
  • - Lưu AV HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phước Minh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn bà Dương Thị Đ và bị đơn ông Lò Thanh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger