|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 3 - 2025 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Khánh Loan.
Ông Hoàng Ngọc Vinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2737/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 79/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 119/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm T, sinh năm 1984, địa chỉ thường trú: 233/1, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: 1 N, khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1980, địa chỉ thường trú: 233/1, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 29/10/2024, bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T1 kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H), thành phố B, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau. Nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên bà xin ly hôn với ông T1.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Trần Quốc V, sinh ngày 25/10/2006, cháu V đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật về thụ lý vụ án, quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách đương sự, thủ tục tố tụng đã được Tòa án xác định và thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc “Ly hôn” đối với ông T1. Cho bà T được ly hôn với ông T1. Về con chung, có 01 con chung là Nguyễn Trần Quốc V, sinh ngày 25/10/2006, cháu V đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét. Bà T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà T khởi kiện yêu cầu “Ly hôn” nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền của Tòa án: Vụ án ly hôn, bị đơn đang cư trú tại phường H, thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo các quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo các quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung tranh chấp:
[4.1] Bà T và ông T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H), thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nên việc kết hôn là hợp pháp theo các quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[4.2] Bà T trình bày vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau nên bà xin được ly hôn.
Xét thấy, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông T1, kết quả xác minh “quá trình vợ chồng bà T và ông T1 chung sống có mâu thuẫn gì hay không địa phương không biết và cũng không nhận được trình báo gì của bà T và ông T1”; Tòa án đã triệu tập ông T1 đến Tòa án làm việc, hòa giải đoàn tụ nhưng ông T1 vắng mặt, không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của mình. Do vậy đủ căn cứ để kết luận hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho bà T ly hôn ông T1.
[4.3] Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Trần Quốc V, sinh ngày 25/10/2006, cháu V đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T1 không có lời khai, yêu cầu về tài sản chung, nợ chung. Do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004582 ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà T đã nộp xong án phí.
[6] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, 57, 58, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm T về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Thanh T1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Cẩm T được ly hôn ông Nguyễn Thanh T1.
2. Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Trần Quốc V, sinh ngày 25/10/2006, cháu V đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004582 ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà T đã nộp xong án phí.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Học |
Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa bà T và ông T
