TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2025.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư;
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mai Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 204/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 28/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lục Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc N, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà A, ngõ E, ngách E, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lục Thị T trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Quốc N trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường L (nay là phường T), thành phố B vào ngày 02/3/2006. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, do không thống nhất quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau và ly thân từ đó đến nay. Nay, chị xác định vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Quốc N.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Nguyễn Quốc A, sinh ngày 16/02/2007, Nguyễn Ý N1, sinh ngày 29/8/2009, Nguyễn Thị Thanh L, sinh ngày 23/9/2012. Hiện cháu Quốc A đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, hai cháu N1 và L, chị nhất trí để anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Quốc N, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã giao các văn bản tố tụng, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Nguyễn Quốc N vẫn vắng mặt, không có lý do và không có quan điểm thể hiện việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử:
Cho chị Lục Thị T được ly hôn .
Giao cho anh Nguyễn Quốc N trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Ý N1, sinh ngày 29/8/2009, Nguyễn Thị Thanh L, sinh ngày 23/9/2012. Việc cấp dưỡng không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lục Thị T thì thấy đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Lục Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Quốc N đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị T và anh Nguyễn Quốc N kết hôn từ ngày 02/3/2006, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kêt hôn tại UBND phường L (nay là phường T), thành phố B, được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Nên, xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Lục Thị T và anh Nguyễn Quốc N ly thân đã lâu, không còn chung sống cùng với nhau. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để anh Nguyễn Quốc N thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án, nhưng vẫn vắng mặt. Do đó có thể thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Lục Thị T được ly hôn anh Nguyễn Quốc N.
[3]. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Nguyễn Quốc A, sinh ngày 16/02/2007, Nguyễn Ý N1, sinh ngày 29/8/2009, Nguyễn Thị Thanh L, sinh ngày 23/9/2012. Hiện cháu Quốc A đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, hai cháu N1 và L, chị Lục Thị T nhất trí để anh Nguyễn Quốc N trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, qua xác minh và ghi lời khai của các cháu, xác định từ khi chị T, anh N ly thân các cháu vẫn ở cùng anh N và học hành ổn định, nguyện vọng của các cháu mong muốn được ở với anh N, nên Hội đồng xét xử cần giao cháu N1 và cháu L cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng.
[4]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc đương sự phải chịu án phí.
[7]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự để tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Lục Thị T được ly hôn anh Nguyễn Quốc N.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Quốc N trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Ý N1, sinh ngày 29/8/2009, Nguyễn Thị Thanh L, sinh ngày 23/9/2012. Việc cấp dưỡng không đặt ra giải quyết.
Chị Lục Thị T không trực tiếp nuôi con chung, có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Về án phí: Chị Lục Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo biên lai số: 0002529 ngày 01 tháng 4 năm 2025. Xác nhận chị Lục Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Kiên |
Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Thắm ly hôn anh Năm
