|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Dũng;
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Ngày 20 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1988.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ hiện nay: Nám .Míru 29 67602 M, Cộng hòa S.
Số hộ chiếu: C5980426 do Cục Q cấp ngày 05/09/2018.
Bị đơn: Anh Trần Ngọc N1, sinh năm 1986.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Svatoborská 495/18 69701 Kyjov, Cộng hòa S.
Số hộ chiếu: C3230018 do Cục Q cấp ngày 21/04/2017.
(Chị N, anh N1 có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/04/2025 và Bản tự khai của nguyên đơn chị Phạm Thị N yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân với anh Trần Ngọc N1 và trình bày như sau:
Chị và anh Trần Ngọc N1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 31 tháng 10 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Sau đó, vợ chồng chị đi xuất khẩu lao động tại Công hòa Séc, mỗi người sống một nơi, tự lo liệu cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai và sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay, xác định tình cảm giữa chị và anh Trần Ngọc N1 không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa, đời sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Ngọc N1.
Về con chung: Chị và anh N1 không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh N1 không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
* Bị đơn - anh Trần Ngọc N1 trình bày:
Anh và chị Phạm Thị N tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 31 tháng 10 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình không hợp, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Sau đó, vợ chồng anh đi xuất khẩu lao động tại Công hòa S, mỗi người sống một nơi, tự lo liệu cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai và sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly với anh, anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Phạm Thị N không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Phạm Thị N không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
- - Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Phạm Thị N ly hôn anh Trần Ngọc N1. Về quan hệ con chung, quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Chị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình như cung cấp bản tự khai, cung cấp các chứng cứ và có đơn đề nghị Toà án không hòa giải, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án, cung cấp bản tự khai cho Tòa án và có đơn xin xét xử vắng mặt. Như vậy các đương sự đều đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
[2.1] Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị N và anh Trần Ngọc N1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh ngày 31 tháng 10 năm 2014 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị N, anh N1 đều khai đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó, vợ chồng chị N, anh N1 đi xuất khẩu lao động tại Công hòa Séc, mỗi người sống một nơi, tự lo liệu cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai và sống ly thân từ đó đến nay. Chị N xác định tình cảm giữa chị và anh N1 không còn nên chị có đơn xin ly hôn anh N1, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh N1 đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh N1 cũng không xin đoàn tụ mà nhất trí ly hôn. Do chị N, anh N1 đang ở Cộng hòa S, không thể đến Tòa án để tham gia hòa giải và thỏa thuận ly hôn nên Toà án không thể lập biên bản ghi nhận ý kiến các đương sự, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị N, xử cho chị N ly hôn anh Nghĩa L phù hợp với quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị N, anh N1 khai không có con chung, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị N, anh N1 khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Các đương sự có thể khởi kiện vụ án phân chia tài sản chung khi cần thiết.
[2.4] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 điểm b Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Trần Ngọc N1.
- Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000034 ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N và anh Trần Ngọc N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hoàn |
Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị N - Trần Ngọc N1
