Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:68/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 17/12/2025

“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu
  • Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng; Bà Phạm Thị Lan.
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 472/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1987; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/8/2021; ĐKHKTT: Số D A, phường T, TP Hải Phòng; Trú tại: Số H L, phường T, TP Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1981; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/4/2017; ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường T, TP Hải Phòng; Nơi cư trú: Số H L, phường T, TP Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • * Người làm chứng: Bà Nghiêm Thị T, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số D A, phường T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
  • Bà Vũ Thị P, sinh năm 1950; Địa chỉ: Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Mạnh C kết hôn vào ngày 06 tháng 3 năm 2008 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam tại L Nga. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc bên Nga. Đến tháng 5 năm 2008 chị về Việt Nam để chuẩn bị cho việc sinh con đầu lòng. Chị ở lại Việt Nam chăm con gần hai năm sau đó lại tiếp tục sang Nga làm kinh tế cùng anh C. Sau khi chị quay lại N làm việc vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, không có tiếng nói chung cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, anh C không cho chị gửi tiền về cho ông bà ngoại nuôi con. Đầu năm 2016 chị về Việt Nam ở cùng bố mẹ đẻ để sinh con thứ hai. Từ khi chị về Việt Nam anh C không gửi tiền về cho chị nuôi con, việc chi phí sinh hoạt của ba mẹ con chị do ông bà ngoại chu cấp. Năm 2022 anh C về nước, mọi chi tiêu sinh hoạt trong gia đình một mình chị gánh vác, vợ chồng không tin tưởng nhau về tình cảm, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Tháng 4 năm 2023 chị đã làm đơn xin ly hôn anh C sau đó vì nghĩ thương các con còn nhỏ nên chị đã rút đơn về đoàn tụ cùng anh C nhưng chỉ được thời gian ngắn vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân, chị và các con về nhà bộ mẹ đẻ ở. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C để chị ổn định cuộc sống.

- Về quan hệ con chung: Chị H xác định vợ chồng chị có 02 con chung là Trần Đức D, sinh ngày 06 tháng 07 năm 2008 và Trần Hải Đ, sinh ngày 03 tháng 07 năm 2016. Tại bản tự khai chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cả 02 con và yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị là 2.000.000đ/tháng/01 con. Đến nay anh C có nguyện vọng nuôi con Trần Hải Đ chị cũng nhất trí với quan điểm của anh C, chị xin nhận nuôi con Trần Đức D và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.

- Về tài sản chung: Chị H xác định vợ chồng chị có tài sản chung là nhà, đất ở tại số H L, phường T, TP Hải Phòng. Chị và anh C tự thỏa thuận về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, công sức đóng góp cho hai bên gia đình: Chị H xác định vợ chồng không có nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn anh C xác định như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 17 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, không quan tâm đến anh và mọi việc trong gia đình, từ đó dẫn đến vợ chồng hiểu lầm nhau. Từ ngày 21/8/2025 chị H về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng không chung sống với nhau. Từ khi chị H về nhà bố mẹ đẻ ở anh có động viên chị H về đoàn tụ cùng nuôi dạy con chung nhưng chị H không về. Chị H làm đơn xin ly hôn anh C không đồng ý, mong muốn chị H về đoàn tụ cùng nuôi dạy con chung. Nếu chị H vẫn quyết tâm xin ly hôn anh C đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương theo yêu cầu của chị H

- Về quan hệ con chung: Anh C xác định vợ chồng anh có 02 con chung là Trần Đức D, sinh ngày 06 tháng 07 năm 2008 và Trần Hải Đ, sinh ngày 03 tháng 07 năm 2016. Anh có nguyện vọng nuôi con Trần Hải Đ, để chị H nuôi con Trần Đức D. Anh tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Anh và chị H tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Người làm chứng bà Nghiêm Thị T (mẹ đẻ chị H) trình bày:

Chị H và anh anh C tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam tại L Nga. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H anh C cùng chung sống và làm việc tại Nga, đến tháng 5 năm 2008 chị H về Việt Nam sinh cháu lớn. Sau khi sinh con được gần hai tuổi thì chị để con ở lại Việt Nam nhờ vợ chồng bà chăm sóc để tiếp tục sang Nga làm kinh tế cùng anh C. Đến đầu năm 2016 chị H về Việt Nam ở cùng vợ chồng bà và sinh con thứ hai. Đến năm 2022 anh C về nước, bà thấy chị H nói với bà anh C không cùng chị chăm lo cuộc sống gia đình, mọi thứ chi tiêu sinh hoạt trong gia đình một mình chị gánh vác, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Tháng 4/2023 chị H làm đơn xin ly hôn anh C, sau đó lại rút đơn. Từ khoản tháng 8 năm 2025 đến nay chị H về ở cùng gia đình bà, anh C có tìm chị H về chung sống nhưng chị H không về. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh C quan điểm của bà do anh chị ấy tự quyết định. Quá trình chung sống chị H, anh C có 02 con chung là Trần Đức D và Trần Hải Đ hiện đang ở cùng chị H, bà đề nghị Tòa án giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết về tài sản do anh chị tự quyết định.

Người làm chứng bà Vũ Thị P (mẹ đẻ anh C) trình bày:

Bà là mẹ đẻ anh C, mẹ chồng chị H. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh C sinh sống và làm việc tại Liên Bang N sau đó về nước sinh sống trên thành phố H. Bà không ở cùng vợ chồng nên không biết mâu thuẫn cụ thể giữa chị H, anh C thế nào. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh C quan điểm của bà không muốn anh chị ly hôn. Quá trình chung sống chị H, anh C có 02 con chung là Trần Đức D và Trần Hải Đ hiện đang ở với chị H. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Anh C, chị H tự giải quyết.

Xác minh với bà Phạm Thị L – Tổ trưởng tổ dân phố C phường T trình bày:

Chị H, anh C là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống tổ dân phố không biết vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thế nào vì khi xảy ra mâu thuẫn anh chị không nhờ tổ dân phố hòa giải. Hiện chị H và hai con đã về nhà bố mẹ đẻ ở không chung sống cùng anh C. Nay chị H làm đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà nguyên đơn chị H, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên quan điểm và ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 -12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị Thúy H ly hôn anh Trần Mạnh C; Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trần Đức D, sinh ngày 06 tháng 07 năm 2008; Anh Trần Mạnh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 03 tháng 07 năm 2016 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Chị H, anh C được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Không giải quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Trần Mạnh C đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại số H L, phường T, thành phố Hải Phòng nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 8 – Hải Phòng.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị H, bị đơn anh C vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt; Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai trực tiếp với Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Trần Mạnh C kết hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam tại L Nga là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị H cho rằng anh C không chịu làm ăn, bỏ mặc chị gánh vác mọi việc gia đình. Anh C cho rằng chị H có quan hệ tình cảm với người khác không quan tâm đến anh và gia đình, từ đó dẫn đến vợ chồng hiểu lầm nhau. Từ ngày 21/8/2025 vợ chồng anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Anh C nhiều lần tìm chị H về chung sống nhưng chị H không về. Thực tế trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau vào năm 2023 chị H đã làm đơn xin ly hôn anh C, sau đó lại rút đơn về đoàn tụ, vợ chồng cũng chỉ sống với nhau được thời gian ngắn sau đó lại phát sinh mâu thuẫn, chị H tiếp tục làm đơn xin ly hôn anh C.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã khuyên bảo, động viên chị H về đoàn tụ chung sống cùng anh C nhưng chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết xin ly hôn anh C. Anh C mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có biện pháp khắc phục tình trạng vợ chồng.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử chị H ly hôn anh C là phù hợp quy định pháp luật để hai bên ổn định cuộc sống.

[2.2] Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh C có 02 con chung là Trần Đức D, sinh ngày 06/07/2008 và Trần Hải Đ, sinh ngày 03/07/2016. Hiện nay hai con đang ở với chị H. Quan điểm của anh C xin nhận nuôi con Trần Hải Đ để chị H nuôi con Trần Đức D, chị H nhất trí.

Xét thấy:

Cháu Trần Đức D và Trần Hải Đ hiện đã trên bảy tuổi, cháu D có quan điểm xin ở với mẹ, cháu Đ có quan điểm xin ở với bố. Chị H hiện làm nhân viên bán hàng có thu nhập khoảng 9 - 10 triệu đồng/tháng. Anh C cũng đi làm và có thu nhập và chỗ ở ổn định. Do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Đức D, sinh ngày 06/07/2008 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 03/07/2016 cho anh C chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H, anh C không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Anh C, chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình:

Chị H, anh C tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị Thúy H ly hôn anh Trần Mạnh C.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trần Đức D, sinh ngày 06/07/2008; Anh Trần Mạnh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 03/07/2016 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H, anh C không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

    Anh C, chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 0006484 ngày 14/11/2025 tại thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 8 – Hải Phòng
  • - Phòng THADS khu vực 8 – Hải Phòng;
  • - Cơ quan đại diện Việt Nam tại Liên Bang Nga;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HNGĐ - ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 68/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thúy Hằng xin ly hôn với anh Trần Mạnh Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger