Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/6/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Út;
  2. Ông Đoàn Văn Vui.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Lâm H, sinh năm: 1992;
  2. Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T, sinh năm: 1997;
  4. Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Các đương sự có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 02 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Lâm H trình bày:

Anh với chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T do được mai mối và tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống ở gia đình anh tại ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre đến năm 2021 thì về bên chị T để sống ở ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre. Vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tính tình không hoà hợp, thường hay cải vả không có tiếng nói chung, gia đình bên vợ chèn ép, đuổi anh H đi. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết và khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh với chị T đã ly thân từ tháng 4/2024 đến nay sống mỗi người ở một nơi. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Từ khi ly thân đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng anh H không được tháo gỡ. Nay, anh H xác định không còn tình cảm với chị T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 25/4/2020 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 08/10/2023. Hiện nay, cháu T1 và cháu H1 đang sống với chị T. Sau khi ly hôn, anh H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1. Anh H đồng ý cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1; cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Từ khi cháu T1 và cháu H1 sống với chị T, chị T lo con chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu. Tuy nhiên, anh làm tài xế giao hàng, có công việc ổn định nên có thể lo cho con và đảm bảo sự phát triển bình thường của con nên yêu cầu được nuôi cháu T1.

Về tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T trình bày:

Những thông tin về hôn nhân, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn, thời gian ly thân của vợ chồng chị, anh H trình bày trên đây là đúng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cãi vã, tính tình không hoà hợp. Chị và anh H đã ly thân mỗi người ở một nơi, mạnh ai người nấy sống, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Nay, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đối với yêu cầu xin ly hôn của anh H, chị đồng ý.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 25/4/2020 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 08/10/2023. Hiện nay, cháu T1 và cháu H1 đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Từ khi anh H đi, cháu T1 và cháu H1 sống với chị T thì có cuộc sống ổn định, được chăm lo chu đáo và đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu. Chị làm phân phối hàng hoá cho các tiệm tạp hoá nên có công việc ổn định, đủ khả năng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Tại phiên toà, anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị T vẫn giữ nguyên lời trình bày.

Anh H trình bày: anh đang làm nghề tài xế xe tải, chạy xe của gia đình. Ngoài ra, anh H cũng đang làm công việc cắt giấy, băng keo. Thu nhập ổn định khoảng 20.000.000 đồng/tháng.

Chị T trình bày: chị T thu nhập khoảng 15.000.000 đồng – 17.000.000 đồng/tháng. Chị thuê người làm không trực tiếp đi giao hàng, chỉ ở nhà ghi toa, chuẩn bị hàng hóa nên thuận tiện cho việc chăm sóc hai bé. Anh H đang làm tài xế nên thời gian không ổn định, không phù hợp cho việc chăm sóc con. Từ khi ly thân đến nay anh H và gia đình anh H không tới lui thăm 02 cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Lâm H.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 25/4/2020 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 08/10/2023. Sau khi ly hôn, chị T được nuôi Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 25/4/2020 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 08/10/2023. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.

Anh H, chị T không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 24/02/2025, anh Nguyễn Lâm H khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của anh H:

Anh H, chị T tự nguyện kết hôn vào năm 2018 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/01/2018. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh H, chị T sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hoà hợp, thường hay cãi vã từ đó không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh H đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và đã tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh H, chị T ly thân từ tháng 4/2024 đến nay mỗi người sống mỗi người một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Tại phiên tòa, anh H xác định nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng anh đến nay vẫn chưa được tháo gỡ; quan hệ vợ chồng anh chị không cải thiện. Anh H xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với chị T. Đối với yêu cầu của anh H, chị T đồng ý. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng của anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: anh H và chị T có 02 con chung là Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 25/4/2020 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 08/10/2023. Hiện nay cháu T1 và cháu H1 đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung. Đối với yêu cầu này, anh H không đồng ý, anh H yêu cầu được nuôi cháu T1; chị T được nuôi cháu H1. Xét thấy, cả anh H và chị T đều có nguyện vọng muốn nuôi con chung. Tại “Biên bản hòa giải” ngày 17/3/2025 cũng như tại phiên tòa, anh H thừa nhận từ khi anh H không sống chung với mẹ con chị T nữa hai con chung sống với chị T ổn định, chị T lo cho các con chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu. Tại “Biên bản xác minh” ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tại Ủy ban nhân dân xã N thể hiện: “anh H và chị T có 02 người con chung. Hiện nay hai con chung đang sống với chị T. Trong quá trình chung sống, nuôi dưỡng con chung thì địa phương không nghe thông tin các bé bị ngược đãi hay chăm lo không chu đáo”. Từ các căn cứ nêu trên có thể khẳng định, hai con chung của anh H và chị T khi sống chung với chị T được chăm lo chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu. Mặt khác, từ trước đến nay các cháu sống với chị T cuộc sống đã ổn định, không nên thay đổi người nuôi con làm xáo trộn cuộc sống của cháu nên cần giao cháu T1 và cháu H1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết chị T có quyền yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về chia tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H, chị T không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lâm H xin ly hôn đối với chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T;
    • Về hôn nhân: anh Nguyễn Lâm H và chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T thuận tình ly hôn.
    • Về nuôi con chung: chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T được quyền tiếp tục nuôi 02 (hai) con là Nguyễn Mỹ T1, sinh ngày 25/4/2020 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 08/10/2023.

    Ghi nhận chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T không yêu cầu anh Nguyễn Lâm H cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Nguyễn Lâm H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

    • Về chia tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Anh Nguyễn Lâm H và chị Nguyễn Lê Ngọc Thanh T không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

  2. Về án phí: anh Nguyễn Lâm H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006799 ngày 28/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - UBND xã Nhuận Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lâm H tranh chấp Nguyễn Lê Ngọc Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger