|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST Ngày 15-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Minh;
- Bà Trương Thị An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 123/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đặng Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 14/01/2007. Quá trình chung sống, anh chị nhiều lần xảy ra mâu thuẫn do anh C ham chơi, không quan tâm đến gia đình. Từ tháng 7 năm 2025, chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn K, xã A sinh sống nên vợ chồng sống ly thân, không quan tâm nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C. Anh chị có 02 con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 17/10/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết và Vũ Thanh H1, sinh ngày 31/12/2013. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con H1, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung. Hiện nay, chị đang làm công nhân tại Công ty G, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện nuôi con.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Vũ Văn C trình bày: Anh và chị Đặng Thị H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 14/01/2007. Quá trình chung sống anh chị không có mâu thuẫn gì lớn nhưng từ tháng 7 năm 2025 đến nay chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên anh chị sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn thì anh cũng đồng ý. Anh chị có 02 con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 17/10/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết và Vũ Thanh H1, sinh ngày 31/12/2013. Ly hôn anh đồng ý để chị H trực tiếp nuôi con H1, không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung.
Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương về quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C thể hiện: Anh chị tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2007 và chung sống tại thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do anh C mải chơi, không quan tâm đến vợ, con. Từ tháng 7 năm 2025 chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên vợ chồng sống ly thân. Anh chị có hai con chung là Vũ Đức M đã đủ 18 tuổi và Vũ Thanh H1 hiện đang sống chung với chị H. Chị H đang làm công nhân nên thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi con.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị H và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H được ly hôn anh C. Con chung Vũ Đức M, sinh ngày 17/10/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét, giải quyết. Giao con chung Vũ Thanh H1, sinh ngày 31/12/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị H và anh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại xã A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- [2] Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
- [3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề ghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn C.
- Về nội dung:
- [4] Chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng ngày 14/01/2007 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [5] Chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn C trình bày phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Sau khi kết hôn anh chị sống chung tại thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hoà; gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành; từ tháng 7 năm 2025 đến nay anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn thì anh C cũng đồng ý. Xét thấy, chị H và anh C đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn anh C.
- [6] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Vũ Đức M, sinh ngày 17/10/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết và Vũ Thanh H1, sinh ngày 31/12/2013. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau. Hiện nay, con chung Vũ Thanh H1 đang chung sống với chị H và cũng có nguyện vọng ở với mẹ; chị H có chỗ ở, công việc ổn định với thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng; anh C cũng đồng ý để chị H trực tiếp nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Vũ Thanh H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị H và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về tài sản chung: Chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8] Về án phí: Căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Đặng Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
- [9] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn anh Vũ Văn C.
- Về con chung:
- Con chung Vũ Đức M, sinh ngày 17/10/2007 đã đủ 18 tuổi, tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Giao con chung Vũ Thanh H1, sinh ngày 31/12/2013 cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con chị H và anh C tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005865 ngày 05/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đặng Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vũ Đức Bình Nguyễn Hữu Bình |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đặng Thị H - Anh Vũ Văn C
