Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13 – 6 – 2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Út
  2. Ông Lê Minh Thật

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 85/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 2001; cư trú tại: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Cẫm M, sinh năm 2004; cư trú tại: Ấp E, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị M do quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2024, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh và chị M đã không còn sống chung với nhau từ tháng 02/2025 đến nay. Trong thời gian không sống chung, mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng, mối quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn được. Vì vậy, anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Trọng N1 (giới tính: nam), sinh ngày 11/02/2021, hiện đang sống cùng với anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Cẫm M đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; qua kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị Cẫm M tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[1.2] Nguyên đơn Phạm Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Nguyễn Thị Cẫm M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 233, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị Cẫm M kết hôn năm 2024 và có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống anh chị có con chung, sau đó phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên anh N yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với chị M. Quá trình giải quyết vụ án, anh N xác định do bất đồng quan điểm sống nên giữa anh chị thường hay cự cãi dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Anh N và chị M đã không còn sống chung với nhau từ tháng 02/2025 đến nay, trong thời gian này anh chị không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; có cơ sở xác định: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa anh N và chị M quá trình chung sống thường hay cự cãi do bất đồng quan điểm; cuộc sống hôn nhân thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng anh N và chị M không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N, cho ly hôn giữa anh N và chị M.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, anh N và chị M có 01 con chung là Phạm Trọng N1 (giới tính: nam), sinh ngày 11/02/2021. Con chung hiện đang sống cùng với anh N, khi ly hôn anh N yêu cầu được nuôi. Xét yêu cầu được nuôi con chung của anh N, Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi anh chị không còn sống chung, anh Nghĩa L người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; để đảm bảo lợi ích, sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý của trẻ; căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao trẻ Phạm Trọng N1 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng: Anh N không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Khi có lý do chính đáng, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[2.4] Về tài sản chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.5] Về nợ chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 233, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn N đối với chị Nguyễn Thị Cẩm M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị Cẩm M.
  2. Về con chung: Giao trẻ Phạm Trọng N1 (giới tính: nam), sinh ngày 11/02/2021 cho anh Phạm Văn N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Cẫm M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Anh Phạm Văn N không yêu cầu chị Nguyễn Thị Cẫm M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
  4. Khi có lý do chính đáng, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  5. Về tài sản chung: Anh Phạm Văn N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  6. Về nợ chung: Anh Phạm Văn N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  7. Về án phí: Anh Phạm Văn N phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí anh Phạm Văn N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010547 lập ngày 19/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
  8. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Long Mỹ;
  • - UBND xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy,
  • tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thừa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger