Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 02 - 2025

V/v Tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lĩnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Anh Chiến

Ông Nguyễn Hoa Kiều

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Đăng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 561/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Nguyễn Hà M, sinh năm 1998 (xin vắng);

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cao Nguyễn Hà M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M và anh Đ tự nguyện cưới nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 17/5/2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên thường xuyên cải nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu ly hôn với Đ.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Cao Khánh N, sinh ngày 24/02/2023, hiện đang sống chung với chị M. Khi ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Tấn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đ thống nhất với trình bày của chị M về thời gian kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng. Vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, không nghiêm trọng. Anh Đ còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn với chị M.

Về con chung: Anh Đ thống nhất với chị M là anh chị có 01 con chung là Nguyễn Cao Khánh N, sinh ngày 24/02/2023, hiện đang sống chung với chị M. Nếu Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh đồng ý giao cháu N cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Chị M xin vắng mặt, anh Đ vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M. Về hôn nhân: Cho chị M được ly hôn với anh Đ; Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Cao Khánh N, sinh ngày 24/02/2023 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Ghi nhận anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu N mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được; Về tài sản chung và nợ chung: chị M và anh Đ thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án; Sự có mặt, vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Cao Nguyễn Hà M thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Nguyễn Tấn Đ có nơi cư trú tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo;

[1.2] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị M và anh Đ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, còn anh Đ vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M và anh Đ.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Cao Nguyễn Hà M, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày, các chứng cứ do đương sự cung cấp thì giữa chị M và anh Đ là vợ chồng, tự nguyện cưới nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 17/5/2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên thường xuyên cải nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu ly hôn với Đ. Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang về tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh Đ nhưng không xác định được tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh Đ vì anh, chị không có yêu cầu hòa giải tại cơ sở.

Tại phiên hòa giải ngày 20/12/2024 anh Đ cho rằng trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, không nghiêm trọng, anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn với chị M. Chị M thì kiên quyết ly hôn với anh Đ. Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, cho thấy anh Đ không có thành ý hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh Đ không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.

[2.2] Về con chung: Căn cứ lời trình bày của đương sự thì giữa chị M và anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Cao Khánh N, sinh ngày 24/02/2023. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị M là có cơ sở, bởi lẽ hiện cháu N đang sống cùng chị M, cuộc sống của con chung đã ổn định về chỗ ở, về điều kiện sinh hoạt. Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng tại phiên hòa giải ngày 20/12/2024 anh Đ có ý kiến là nếu Tòa án giải quyết cho anh và chị M ly hôn thì anh Đ đồng ý giao con chung cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu N cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu N mỗi tháng 1.500.000đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được.

[2.3] Về tài sản chung: Chị M và anh Đ thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Chị M và anh Đ thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Chị Cao Nguyễn Hà M phải chịu 300.000 án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh Nguyễn Tấn Đ phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[4] Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, 227, 228, 233, 235 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Nguyễn Hà M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Nguyễn Hà M được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Cao Khánh N, sinh ngày 24/02/2023 cho chị Cao Nguyễn Hà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận anh Nguyễn Tấn Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Cao Khánh N mỗi tháng 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được. Thời gian cấp dưỡng nuôi con khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Anh Nguyễn Tấn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

    Kể từ ngày chị Cao Nguyễn Hà M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Tấn Đ chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Về tài sản chung: Chị Cao Nguyễn Hà M và anh Nguyễn Tấn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị Cao Nguyễn Hà M và anh Nguyễn Tấn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Cao Nguyễn Hà M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị M đã nộp là 300.000 theo biên lai thu số 0008272 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nên xem như chị M đã nộp xong;

    Anh Nguyễn Tấn Đ phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo;
  • - UBND xã Quơn Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Lĩnh

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Nguyễn Hà M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger