Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 68/2025/DS-ST

Ngày: 24/6/2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Mẫn

Ông Đặng Thế Ứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang: Ông Võ Thành Đạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2024/TLST- DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST- DS ngày 29 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự.

Nguyên đơn:

Bà Lương Thị A, sinh năm 1960;

Địa chỉ: số F, ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lương Thị A:

  1. Ông Phạm Mạnh H, sinh năm 1990 (văn bản ủy quyền số chứng thực 657, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2024) (có mặt);
  2. Ông Phạm Thiên P, sinh năm 1996 (văn bản ủy quyền số chứng thực 657, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2024) (vắng mặt);

Địa chỉ: số G, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Trần Anh T, sinh năm 1974 (có mặt);

Bà Phạm Thị Anh T1, sinh năm 1979;

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Anh T1: ông Nguyễn Trần Anh T, sinh năm 1974 (văn bản ủy quyền số công chứng 9511, quyển số 01/2025TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2025) (có mặt).

Cùng địa chỉ: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Ngọc Minh N, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Bà Đặng Thị Thùy T2, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: số A, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Bà Lương Thị A có đại diện theo ủy quyền ông Phạm Mạnh H trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết làm ăn chung, nên vào năm 2023 bà Lương Thị A có cho vợ chồng ông Nguyễn Trần Anh T bà Phạm Thị Anh T1 vay số tiền như sau:

  • Ngày 15/02/2023 (âm lịch): vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng tính từ ngày 15/2/2023 đến ngày 15/8/2023 (âm lịch).
  • Ngày 01/3/2023 (âm lịch): vay 30.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng tính từ ngày 01/3/2023 đến ngày 01/9/2023 (âm lịch).
  • Ngày 20/3/2023 (âm lịch): vay 50.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng tính từ ngày 3/3/2023 đến ngày 20/9/2023 (âm lịch).
  • Ngày 03/3/2023 (âm lịch): vay 40.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng tính từ ngày 03/3/2023 đến ngày 03/9/2023 (âm lịch).
  • Ngày 25/8/2023 (dương lịch): vay 120.000.000 đồng, thời hạn vay 04 tháng tính từ ngày 25/8/2023 đến ngày 25/12/2023 (âm lịch).
  • Ngày 17/12/2023 (dương lịch): vay 600.000.000 đồng, thời hạn vay 04 tháng tính từ ngày 17/12/2023 đến ngày 17/02/2024 (âm lịch).
  • Tổng số tiền vốn gốc là: 1.040.000.000 đồng.

- Mục đích vay: để làm vốn kinh doanh, buôn bán.

- Những lần vay tiền thì bà A và ông T bà T1 đều có lập hợp đồng vay tiền, trong hợp đồng hai bên cũng có thỏa thuận lãi suất là 1,6%/tháng. Đối với hợp đồng ngày 25/8/2023 có thỏa thuận lãi nhưng không ghi trong hợp đồng.

Khi đến hạn trả tiền thì bà A có nhiều lần yêu cầu ông T bà T1 trả lại tiền vay nhưng ông T bà T1 không trả.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận thống nhất hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn vay tổng cộng là 640.000.000 đồng và bị đơn phải trả lãi đối với số tiền vốn 640.000.000 đồng tính từ ngày 01/12/2023 đến ngày 27/5/2025 với mức lãi suất là 1,6 %/tháng với số tiền lãi là: 18 tháng x 1,6%/tháng x 640.000.000 đồng = 184.000.000 đồng.

Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết: Buộc bị đơn ông Nguyễn Trần Anh T và bà Phạm Thị Anh T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lương Thị A số tiền 824.000.000 đồng (vốn gốc 640.000.000 đồng và tiền lãi 184.000.000 đồng), yêu cầu trả một lần.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Trần Anh T (đồng thời ông T cũng là đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Anh T1) trình bày:

Tại phiên tòa thì ông và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà A đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về số tiền hiện ông và bà T1 còn nợ nguyên đơn bà Lương Thị A là 824.000.000 đồng (trong đó tiền vốn là 640.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/12/2023 đến ngày 27/5/2023 số tiền là 184.000.000 đồng). Ông và bà T1 đồng ý trả số tiền 824.000.000 đồng như yêu cầu của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy phát biểu ý kiến và đề nghị:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 68, 79, 71, 72, 73, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 166, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự Bộ luật Tố tụng Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Phạm Thị Anh T1 và ông Nguyễn Anh T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lương Thị A số tiền 824.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn bà Phạm Thị Anh T1, ông Nguyễn Trần Anh T đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Trần Anh T và bà Phạm Thị Anh T1 liên đới trả số tiền 824.000.000 đồng (vốn gốc 640.000.000 đồng và lãi 184.000.000 đồng). Bị đơn ông T cũng thống nhất số tiền nợ mà ông và bà T1 hiện còn nợ nguyên đơn bà A số tiền là 824.000.000 đồng, bị đơn cũng đồng ý trả số tiền 824.000.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét, tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn thống nhất được số tiền hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn là 824.000.000 đồng, đây là sự thỏa thuận rõ ràng, tự nguyện, không bị cưỡng ép của đương sự, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn bà Phạm Thị Anh T1 và ông Nguyễn Trần Anh T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Lương Thị A số tiền 824.000.000 đồng (vốn 640.000.000 đồng và lãi 184.000.000 đồng).

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, nên bị đơn chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 36.000.000 đồng + 3% x (824.000.000 đồng – 800.000.000 đồng) = 36.720.000 đồng.

[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị A. Buộc bị đơn bà Phạm Thị Anh T1 và ông Nguyễn Trần Anh T có nghĩa liên đới trả cho nguyên đơn bà Lương Thị A số tiền 824.000.000 (Tám trăm hai mươi bốn triệu đồng), ((trong đó vốn gốc 640.000.000 (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng) và lãi 184.000.000 (Một trăm tám mươi bốn triệu đồng)). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  2. Về án phí: Bị đơn bà Phạm Thị Anh T1 và ông Nguyễn Trần Anh T phải chịu 36.720.000 (Ba mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do nguyên đơn bà Lương Thị A hiện tại 65 tuổi, theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án và Điều 2 Luật người cao tuổi, nên bà A được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Tiền Giang;

- VKSND thị xã Cai Lậy;

- Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Kim Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 68/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger