Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/DS-ST

Ngày: 05-9-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Phi Hùng
  2. Ông Đỗ Minh Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 96/2024/QÐST- DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim C, sinh năm 1983; trú tại: Số nhà C, Rạch T, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Vũ Trường A, sinh năm 1988; trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn, chị Nguyễn Kim C trình bày:

Ngày 01/7/2022 chị và anh Nguyễn Văn Vũ Trường A có làm hợp đồng đặt cọc viết tay. Theo hợp đồng các bên thoả thuận với nội dung: chị C sẽ nhận chuyển nhượng đất của anh A thửa đất số 492, tờ bản đồ 16 có chiều ngang 14m, dài 35m với giá là 400.000.000 đồng. Chị C đặt cọc cho anh A 100.000.000 đồng. Chị C sẽ trả tiếp 250.000.000 đồng khi tiến hành ký hợp đồng tại Phòng công chứng. Còn lại 50.000.000 đồng sẽ trả đủ khi anh A giao giấy chứng nhận QSD đất hợp pháp đối với diện tích chuyển nhượng cho chị C; sang lắp mặt bằng và có nước sạch vào ngang đất. Trường hợp anh A từ chối chuyển nhượng hoặc vi phạm thoả thuận nêu trên thì phải trả lại tiền đặt cọc và bồi thường cọc là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo anh A nói với chị thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất không thực hiện được nên không làm hợp đồng chuyển nhượng đất cho chị được. Vì vậy, sau nhiều lần chị yêu cầu anh A trả lại tiền cọc và bồi thường tiền cọc 100.000.000 đồng theo thoả thuận thì anh A đã có hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện. Tại thời điểm ngày 11/8/2023 anh A có năn nỉ chị là cho anh trả 100.000.000 đồng tiền cọc và bồi thường thêm 50.000.000 đồng, tổng cộng là 150.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng sẽ trả đủ. Do lúc này chị cần tiền nên đã đồng ý nhưng để có bằng chứng, chị và anh A có đến Phòng công chứng số 02 tỉnh Đồng Tháp lập “hợp đồng vay tiền” với nội dung chị cho anh A vay 150.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng sẽ trả, nhưng sau đó anh A vẫn không trả. Ngoài ra, chị và anh A có làm Hợp đồng cầm cố tài sản viết tay ngày 11/8/2023 với nội dung chị cho anh A vay 150.000.000 đồng, theo đó anh A có giao cho chị giữ bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, cấp ngày 13/7/2021. Tuy nhiên, chị không có giao tiền cho anh A theo 02 hợp đồng nêu trên mà số tiền được ghi trong 02 hợp đồng là xuất phát từ việc thoả thuận trả tiền đặt cọc mua đất và bồi thường cọc theo hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2022 giữa chị và anh A mà thôi.

Nay chị yêu cầu anh A trả lại 100.000.000 đồng tiền đặt cọc và bồi thường cọc 100.000.000 đồng, tổng cộng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) theo thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2022. Chị tự nguyện trả lại bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, cấp ngày 13/7/2021 cho anh A.

* Bị đơn, anh Nguyễn Văn Vũ Trường A có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Anh thừa nhận có hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng đất cho chị C vào ngày tháng năm như chị C trình bày. Anh đã nhận cọc số tiền là 100.000.000 đồng. Lý do anh không thực hiện việc làm thủ tục chuyển nhượng đất cho chị C là thủ tục tách thửa đất bị chậm và sau này thì cơ quan có thẩm quyền không cho tách thửa. Số tiền nhận đặt cọc của chị C anh đã dung vào việc sang lắp nên không có trả lại cho chị C. Sau đó anh có năn nỉ chị C giảm bớt tiền phạt cọc được chị C đồng ý nên hai bên đã làm Hợp đồng vay tiền ngày 11/8/2023 với số tiền 150.000.000 đồng. Đồng thời anh đã giao cho chị C giữ bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/7/2021 cho Nguyễn Văn Vũ Trường A đứng tên.

Nay do điều kiện anh khó khăn nên anh đồng ý trả cho chị C số tiền nhận đặt cọc là 100.000.000 đồng và bồi thường cọc là 75.000.000 đồng, đề nghị chị C giảm bớt 25.000.000 đồng. Anh yêu cầu chị Chi t lại bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, cấp ngày 13/7/2021 cho Nguyễn Văn Vũ Trường A đứng tên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

- Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng về xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Qua phát biểu tranh luận và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim C;
  • Buộc anh Nguyễn Văn Vũ Trường A phải trả cho chị Nguyễn Kim C số tiền số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng và bồi thường cọc là 100.000.000 đồng; tổng cộng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
  • Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Kim C giao trả bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/7/2021 cho Nguyễn Văn Vũ Trường A đứng tên.

- Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

- Kiến nghị: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị Nguyễn Kim C khởi kiện anh Nguyễn Văn Vũ Trường A yêu cầu Tòa án giải quyết về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Anh Nguyễn Văn Vũ Trường A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Vũ Trường A.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Kim C, Hội đồng xét xử nhận xét:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án chị C đã xuất trình “Hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2022” anh A thừa nhận Hợp đồng đặt cọc nêu trên do anh A ký tên và nội dung thoả thuận giữa anh và chị C trong hợp đồng là đúng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luật của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc anh A thừa nhận tình tiết và chứng cứ mà chị C đưa ra thì chị C không phải chứng minh. Trên cơ sở đó, xác định anh A có nhận tiền đặt cọc của chị C số tiền 100.000.000 đồng như chị C trình bày là thực tế.

Theo thoả thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2022 thì thời hạn đặt cọc là 03 tháng. Trong thời hạn trên chị C sẽ trả tiếp 250.000.000 đồng khi tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 492, tờ bản đồ 16 có chiều ngang 14m, dài 35m tại Phòng công chứng. Còn lại 50.000.000 đồng sẽ trả đủ khi anh A giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích chuyển nhượng cho chị C; sang lắp mặt bằng và có nước sạch vào ngang đất. Trường hợp anh A từ chối chuyển nhượng hoặc vi phạm thoả thuận nêu trên thì phải trả lại tiền đặt cọc và bồi thường cọc là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh A thừa nhận đã vi phạm thoả thuận theo hợp đồng nêu trên. Ngoài ra, tại thời điểm ngày 11/8/2023 anh A và chị C bồi thường tiền cọc là 50.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng sẽ trả đủ. Theo đó, chị C và anh A có đến Phòng công chứng số 02 tỉnh Đồng Tháp lập “hợp đồng vay tiền” với nội dung chị cho anh A vay 150.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng sẽ trả, nhưng sau đó anh A vân không trả.

Điều 328 của Bộ luật dân sự năm 2015 qui định

“1. Đặt cọc là việc một bên (sau dây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc là kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương ứng giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác”

[2.2] Qua đó, xét thấy anh A đã vi phạm hợp đồng đặt cọc 01/7/2022 và đến ngày 11/8/2023 chị C thoả thuận chỉ yêu cầu anh A bồi thường 50.000.000 đồng tiền cọc trong thời hạn 01 tháng nhưng anh A vẫn không thực hiện. Trên cơ sở đánh giá chứng cứ và qui định của pháp luật nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim C là có căn cứ. Theo đó, buộc anh Nguyễn Văn Vũ Trường A phải trả cho chị Nguyễn Kim C số tiền số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng và bồi thường cọc là 100.000.000 đồng; tổng cộng 200.000.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật.

[3] Đối với bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/7/2021 cho Nguyễn Văn Vũ Trường A đứng tên, anh A giao cho chị C giữ, chị C tự nguyện giao trả cho anh A nên công nhận sự tự nguyện của chị C là phù hợp qui định của pháp luật.

[4] Hội đồng xét xử chấp đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung vụ án.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án quy định về nghĩa vụ chịu án phí;

Do yêu cầu của chị Nguyễn Kim C được chấp nhận nên anh Nguyễn Văn Vũ Trường A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Theo đó, anh Nguyễn Văn Vũ Trường A phải trả cho chị C số tiền 200.000.000 đồng thì đây là vụ án tranh chấp dân sự có giá ngạch. Mức án phí anh A phải chịu theo quy định là: “Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng là 5% giá trị tài sản có tranh chấp”. Vì vậy anh A phải nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 328 của Bộ Luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim C;
    • - Buộc anh Nguyễn Văn Vũ Trường A phải trả cho chị Nguyễn Kim C số tiền số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng và bồi thường cọc là 100.000.000 đồng; tổng cộng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Công nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Kim C giao trả cho anh Nguyễn Văn Vũ Trường A bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 493, tờ bản đồ 16, diện tích 756m², loại đất lúa, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/7/2021 cho Nguyễn Văn Vũ Trường A đứng tên.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Vũ Trường A phải nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Kim C được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002222 ngày 07/3/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Vũ Trường A vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ + VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 68/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger