Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27/9/2024

V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG

Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Sơn và ông Bùi Thế Vịnh.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
  • - Đại diện VKS nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh T - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/5/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:

  • + Nguyên đơn: Chị Đào Thị L, sinh năm 1982 – (Có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • + Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 – (Có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình ghi ngày 24/4/2024 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Đào Thị L trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T1 vào ngày 15/11/2001, trước khi cưới có được tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng gia đình anh tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng về quan điểm nên hay cãi chửi nhau nên vợ chồng đã cắt đứt mọi quan hệ từ tháng 3/2024 đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không thể chung sống với nhau được nữa nên chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

  • - Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là Nguyễn Hồng T2, sinh ngày 02/4/2004; Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 02/6/2007 và Nguyễn Vinh Q, sinh ngày 11/02/2014. Hiện tại cháu T2 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết; Cháu L1 và cháu Q đang ở với bố. Nay vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị tùy thuộc vào nguyện vọng của các con, nếu các con đều mong muốn ở T để tiện cho việc học hành thì chị cũng nhất trí và chị sẽ có trách nhiệm với các con.
  • - Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Vợ chồng chị có tài sản chung, có vay công nợ chung nhưng vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị L vẫn giữ nguyên các yêu cầu trên.

- Bị đơn: Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai của Tòa án ghi ngày 29/5/2024 anh Nguyễn Văn T1 trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đào Thị L kết hôn với nhau vào ngày 15/11/2001, trước khi cưới có được tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống cùng với gia đình anh. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không tôn trọng nhau, luôn bất đồng về quan điểm trong làm ăn kinh doanh, thường xuyên cãi chửi nhau. Tháng 3/2024 chị L đã bỏ về mẹ đẻ ở bên Yên M sống và vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ từ đó đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, phía chị L xin ly hôn anh không đồng ý.

  • - Về con chung: Vợ chồng anh có 3 con chung như chị L khai là đúng. Hiện tại con lớn đã trưởng thành; Hai con bé hiện vẫn đang ở với anh do anh chăm sóc nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn anh xin tiếp tục nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Vợ chồng anh hiện tại có tài sản chung chưa chia và còn nợ rất nhiều người, anh đề nghị để họ tham gia tố tụng để vợ chồng cùng có trách nhiệm trả nợ. Những người cho vợ chồng vay nợ toàn là anh chị em trong gia đình nên khi Tòa án hỏi họ đều không muốn vợ chồng ly hôn nên họ chưa có đòi, nhưng để đảm bảo quyền lợi cho họ thì anh đề nghị được giải quyết chung trong vụ án.

Tại phiên toà, anh Nguyễn Văn T1 trình bày, anh không đồng ý ly hôn với chị L mà mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dạy con chung và cùng có trách nhiệm trả nợ. Còn nếu chị L cứ cương quyết xin ly hôn thì anh tùy theo nguyện vọng của chị L.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán xác định đúng mối quan hệ tranh chấp. Việc giao gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho VKS nghiên cứu đầy đủ, đúng quy định; HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bị đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, chị Đào Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
  • - Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án:
    • + Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, X:
    • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
    • + Con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T1 tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 02/6/2007 và Nguyễn Vinh Q, sinh ngày 11/02/2014. Anh T1 không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn chị Đào Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    • + Án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và tiền tố tụng: Xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Thị L là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định. Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, các đương sự có địa chỉ cư trú tại huyện L. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về căn cứ áp dụng pháp luật: Do các bên kết hôn với nhau đã đủ điều kiện kết hôn và đã có giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp, do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân gia đình 2014 để giải quyết.

[4]Về nội dung vụ kiện:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị L và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng thường bất đồng trong quan điểm kinh tế. Vợ chồng đã có thời gian sống ly thân với nhau từ tháng 03 năm 2024 do chị L bỏ về mẹ đẻ sinh sống. Nay chị L xin ly hôn, anh T1 không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng anh T1, chị L về với nhau nhưng chị L vẫn nhất quyết tha thiết đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Xác minh tại chính quyền địa phương được biết: Năm 2001 chị Đào Thị L kết hôn với anh Nguyễn Văn T1 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, sau khi kết hôn chị L về gia đình anh T1 chung sống, tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên khoảng mấy tháng gần đây không thấy chị L chung sống với anh T1 tại địa phương. Nay phía chị L xin ly hôn với anh T1, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, chị L vẫn cương quyết xin ly hôn với anh T1, không đồng ý đoàn tụ; phía anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng kể từ thời điểm Tòa án giải quyết vụ án, anh T1 vẫn không hàn gắn được tình cảm với chị L nên mục đích của hôn nhân không còn đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Thị L, xử cho chị L được ly hôn với anh T1 là phù hợp với các Điều 51; Điều 56; Điều 58 luật hôn nhân và gia đình.

[4.2] Về con chung: Vợ chồng L, anh T1 có ba con chung là Nguyễn Hồng T2, sinh ngày 02/4/2004; Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 02/6/2007 và Nguyễn Vinh Q, sinh ngày 11/02/2014. Hiện tại cháu T2 đã trưởng thành; Cháu L1 và cháu Q đang ở với anh T1. Nguyện vọng của anh T1 xin được tiếp tục nuôi cả hai cháu và chị L cũng nhất trí với yêu cầu của anh T1. Do vậy cần giao cả hai con chung của vợ chồng cho anh T1 nuôi dưỡng là phù hợp. Anh T1 không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung, xét là phù hợp Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình.

[4.3] Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị L thừa nhận vợ chồng chị có tài sản chung, có vay công nợ chung nhưng vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn T1 trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án có kê khai rất nhiều khoản nợ của vợ chồng, có kê khai họ tên, tuổi và địa chỉ của những người cho vay. Tòa án đã tiến hành triệu tập một số người có tên tuổi địa chỉ như anh T1 khai đến Tòa để làm việc và tại các buổi làm việc thì toàn bộ những người mà anh T1 kê khai đều có lời khai không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án ly hôn này mà để tự các bên giải quyết với nhau. Tòa án đã thông báo yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp tiền tạm ứng án phí dân sự nhưng không có ai làm đơn khởi kiện. Do vậy Tòa án không đưa những người này vào tham gia tố tụng trong vụ án. Nếu sau này những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Đào Thị L phải thanh toán số nợ thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự mới, HĐXX xét là phù hợp.

[5] Về Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chị Đào Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

[2] Con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Văn T1 tiếp tục nuôi hai con chung là Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 02/6/2007 và Nguyễn Vinh Q, sinh ngày 11/02/2014. Anh T1 không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn chị Đào Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[3] Án phí: Chị Đào Thị L phải phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007575 ngày 20/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Báo cho đương sự đều có mặt biết có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Thi hành án;
  • - UBND xã Tân Hưng.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Liễu, anh Tình - LH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger