TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
|
Bản án số : 68/2024/HSST
Ngày 28/11/2024
NHÂN DANH
NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ T
- - Các hội thẩm nhân dân :
- Ông Trần Quang H
- Bà Đặng Thị Thanh T1.
- - Th ký toà án ghi biên bản phiên toà : Ông Đặng Trần H1 — Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ .
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P tham gia phiên toà: Ông Lê Trung K - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/HSST ngày 14/10 /2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Hà Xuân V Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 08 tháng 3 năm 1985 tại: huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: Khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi tạm trú: Không.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không.Số CCCD: [...] cấp ngày 16 tháng 8 năm 2021. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH, trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Hà Văn Khai S năm 1954. Con bà: Nguyễn Thị K1 (Đã chết). Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
+ Tại bản án số 148/2008HS-ST ngày 19/6/2008 bị TAND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử tù có thời hạn 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 19/3/2008; bồi thường cho bị hại 5.390.000 đồng và lãi chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, án phí hình sự 50.000 đồng, án phí dân sự 269.500 đồng. Đối với án phí và nghĩa vụ dân sự, ngày 19/12/2008, theo biên lai thu tiền bán tài sản tạm giữ để bảo đảm thi hành án số tiền là 600.000 đồng tại biên lai số 10803 và được phép chuyển sang án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự tại biên lại số 0029042 ngày 14/01/2009; ngày 07/4/2009, ông Hà Xuân K2 (bố đẻ V) đã nộp 269.500 đồng; khoản chi phí bồi thường cho bị hại không thể xác minh do cơ quan thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ không có biên bản đôn đốc hoặc ra Quyết định cưỡng chế đối với V và không thể xác minh được bị hại trong vụ án tại thời điểm hiện tại.
+ Tại bản án số 279/2009/HS-ST ngày 29/9/2009 bị TAND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử tù có thời hạn 09 tháng về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 03/7/2009; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (đã chấp hành xong ngày 27/3/2012).
+ Tại bản án số 129/2010/HSST ngày 23/9/2010 bị TAND TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt tù có thời hạn 6 tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong vào ngày 02/01/2011 tại Trại giam H3; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Qua xác minh thể hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai đã uỷ thác cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm khê, tỉnh Phú Thọ theo quyết định số 06/QĐ-CCTHADS ngày 08/11/2010 để thi hành khoản án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng đối với V. Tuy nhiên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm khê không thấy hồ sơ thể hiện việc tiếp nhận ủy thác nói trên và trong kho lưu trữ không có văn bản đôn đốc việc thi hành án đối với V.
+ Tại bản án số 94/2013/HSST ngày 20/9/2013 bị TAND TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt tù có thời hạn 4 năm 6 tháng về tội Cướp tài sản, chấp hành xong ngày 10/10/2017; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (đã thi hành xong ngày 14/8/2014).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2024 đến ngày 10/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P. Hôm nay có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Chị Nguyễn Thu P, sinh năm 1984.
Trú tại : Khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng 11 giờ 33 phút ngày 21/7/2024, Hà Xuân V, sinh năm 1985 trú tại khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn: bạc - vàng - đen, biển kiểm soát: 11F8 - 6223 đi từ ngã 3 Km7, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì thấy quán nước của chị Nguyễn Thu P, sinh năm 1984 trú tại khu D, xã P, thị xã P nên V dừng lại dựng xe ở vỉa hè rồi đi vào trong quán để uống nước. Lúc này chị P đang rửa xe cho khách bên ngoài, không thấy V gọi nước nghĩ V là khách quen nên không để ý tiếp tục rửa xe. Ngồi một lúc, V quan sát thấy không có ai xung quanh khu vực quầy bán hàng của quán nước và nhìn thấy trên mặt bàn của quầy bán nước có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu tím có ốp nhựa bên ngoài màu trắng nên V đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. V đi lại khu vực quầy bán nước dùng tay trái lấy chiếc điện thoại đúc vào túi quần bên trái. Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại thì V điều khiển xe mô tô bỏ đi, trên đường đi V kiểm tra phía sau ốp lưng điện thoại có số tiền 2.000.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P, sinh năm 1984 trú tại khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; V đã tháo vứt bỏ thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại vừa trộm cắp được và lắp thẻ sim số 0393453685 của V vào chiếc điện thoại để sử dụng do chiếc điện thoại không cài mật khẩu. Sau đó V điều khiển xe mô tô đến chỗ làm phụ xây cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1977 trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang xây dựng tại xã P, thị xã P. Đến buổi chiều cùng ngày thì V xin nghỉ việc về quê ở xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Ngày 29/7/2024, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F8 - 6223 từ nhà đi thành phố Hà Nội, trên đường đi do xe mô tô bị hỏng không sửa chữa được nên V đã bán chiếc xe được 800.000 đồng cho một người không biết tên, tuổi, địa chỉ. Sau đó, V tiếp tục bắt xe khách đi xuống thành phố Hà Nội.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/7/2024, khi V đang ngồi uống nước tại quán nước của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1981, địa chỉ A V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội thì có tài khoản M “Ngân Trần” của chị Trần Thị Đ, sinh năm 1991, trú tại: khu D, xã P, thị xã P gọi điện đến tài khoản M “Thu P” của chị P đã cài đặt sẵn trên chiếc điện thoại mà V trộm cắp. V đã nghe và trả lời là đã mua lại chiếc điện thoại này nếu muốn chuộc lại thì chuyển số tiền 4.000.000 đồng theo ảnh mã QR code tài khoản ngân hàng của chị H2 (chủ quán nước) mà V đã hỏi nhờ mượn tài khoản để chuyển tiền vào. Sau khi chị Đ nhận được tin nhắn thoại và mã QR code mà V gửi thì chị Đ đã thông báo cho chị Nguyễn Thu P biết. Chị P đã sử dụng phần mềm định vị thì phát hiện chiếc điện thoại của chị P bị trộm cắp đang ở khu vực phường X, quận T, thành phố Hà Nội.
Ngày 31/7/2024, chị P đến Công an xã P, thị xã P trình báo sự việc. Cùng ngày, chị P đi xuống khu vực phường X, quận T, Hà Nội để định vị tìm chiếc điện thoại thì gặp chị Nguyễn Thị H2 và được chị H2 cho biết, tối ngày 30/7/2024 có một người đàn ông đến quán uống nước có nhờ chị H2 cho mượn số tài khoản ngân hàng để người khác chuyển tiền đến. Sau đó chị P cho chị H2 xem lại hình ảnh đối tượng khi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của chị P trích ra từ camera giám sát thì chị H2 xác nhận chính là người đã nhờ chị H2 cho mượn số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền tối 30/7/2024. Chị P đã nhờ chị H2 khi nào đối tượng quay lại quán nước thì thông báo cho chị P. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, khi Hà Xuân V đến quán uống nước thì chị H2 đã thông báo cho chị P biết. Chị P đã đến Công an phường X, quận T trình báo lại sự việc bị trộm cắp chiếc điện thoại di động ngày 21/7/2024 tại khu D, xã P, thị xã P, hiện đối tượng đang ngồi quán bán nước của chị H2 ở A V, phường X, quận T. Công an phường đã tiến hành kiểm tra đối với Hà Xuân V phát hiện thu giữ trên người 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 màu tím kèm ốp lưng điện thoại, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P, 01 (một) ví da bên trong có 01 (một) căn cước công dân mang tên Hà Xuân V, số tiền 142.000 đồng (một trăm bốn mươi hai nghìn đồng) rồi đưa V về trụ sở phường X, phường X, quận T, thành phố Hà Nội làm việc, quá trình làm việc Hà Xuân V đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu ở trên. Ngày 01/8/2024, Công an phường X, quận T, thành phố Hà Nội đã thông báo và bàn giao hồ sơ, đồ vật, tài liệu và đối tượng Hà Xuân V cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P để điều tra, giải quyết theo quy định.
Ngày 01/8/2024, Công an thị xã P căn cứ vào dữ liệu camera an ninh được lắp đặt tại quán nước của chị P đã được công an xã P, thị xã P khai thác tiến hành nhận dạng người qua camera. Kết quả xác minh camera trong khoảng thời gian dài 11 giờ 33 phút đến 11 giờ 35 phút ngày 21/7/2024 tại quán nước chị P: Tại thời điểm 11:34:40, có hình ảnh một nam thanh niên mặc áo dài tay (dạng áo công nhân), quần dài màu đen, đi bộ từ trong quán đi ra ngoài quán. Tại thời điểm 11:34:47 thì nam giới này đi bộ từ ngoài cửa quán vào trong quán. Đến 11:35:22 thì nam giới này đi lại khu vực bàn bày bán đồ bán nước và dùng tay trái cầm chiếc điện thoại đang để trên mặt bàn rồi đúc vào túi quần trái và đi ra trước quán. V khẳng định nói nam giới có trong đoạn video mà cơ quan công an thu giữ như mô tả trên chính là V đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 21/7/2024.
Ngày 02/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P tiến hành định giá đối với các tài sản mà Hà Xuân V đã trộm cắp. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG ngày 06/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, lắp sim số 0393453685 tại thời điểm định giá tháng 8/2024 có giá là 5.500.000 đồng (01 ốp lưng điện thoại cũ không còn giá trị nên không tiến hành định giá).
Như vậy, tổng giá trị tài sản do Hà Xuân V trộm cắp là 7.500.000 đồng (01 điện thoại di động Iphone 11 màu tím trị giá 5.000.000 đồng; 2.000.000 đồng tiền mặt). Do đó, hành vi trộm cắp tài sản ngày 21/7/2024 của Hà Xuân V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do hà Xuân V không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang nên gia đình và chính quyền địa phương không quản lý được; do vậy Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp tạm giam đối với V là phù hợp.
Đối với chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1981, trú tại số A, Đường V, phường X, quận T, TP . là người bán nước tại địa chỉ thường trú, khai rằng không quen biết gì với V và chị P. Vào tối ngày 30/7/2024, có một người nam giới tới quán chị H2 uống nước và nhờ chị cho mượn tài khoản ngân hàng để chuyển tiền vào, chị H2 đồng ý nhưng không biết và cũng không hỏi nội dung, mục đích việc chuyển tiền. Ngày 31/7/2024, khi chị H2 đang bán nước chị P đến gặp và kể bị mất trộm chiếc điện thoại Iphone 11 màu tím không cài mật khẩu nên bị đối tượng trộm cắp sử dụng tài khoản Facebook của chị gọi điện đòi tiền chuộc. Chị P định vị được điện thoại ở đây và cho chị xem ảnh V và nhờ khi nào V quay lại thì chị H2 báo cho chị P. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, V quay lại quán nước của chị H2, chị H2 đã báo cho chị P để chị Phương trình B cơ quan công an bắt giữ được V, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm đối với chị H2 .
Đối với hành vi Hà Xuân V mượn tài khoản của chị H2 để yêu cầu chị P chuyển 4.000.000 đồng chuộc điện thoại có dấu hiệu tội Cưỡng đoạt tài sản; tuy nhiên, chị P chưa thực hiện việc chuyển số tiền này theo yêu cầu của V, do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý hành vi trên của V .
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11F8 - 6223 mà V sử dụng đi trộm cắp tài sản như nêu trên. V khai trên đường đi do chiếc xe bị hỏng không sửa chữa được nên V đã bán dọc đường, không xác định được tên, tuổi, địa điểm bán nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị can không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại Iphone 11 màu tím cùng ốp lưng điện thoại cho chị P, nên chị P không có yêu cầu đề nghị gì đối với chiếc điện thoại và thẻ sim bị V trộm cắp. Đối với số tiền mặt 2.000.000 đồng của chị P để sau ốp điện thoại mà V đã trộm cắp, chị P yêu cầu V phải bồi thường lại số tiền trên cho chị P.
Về vật chứng và các đồ vật, tài sản thu giữ, kết quả điều tra xác định:
- - Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu tím, số Imell: 353982107960884; Imel 2: 353982108124662 (cũ đã qua sử dụng) kèm ốp lưng điện thoại và thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P, là tài sản của chị P, nên ngày 09/8/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã P trao trả lại cho của chị P tài sản trên là phù hợp.
- - Đối với căn cước công dân mang tên Hà Xuân V, ví giả da màu đen và thẻ sim số 0393453685 là tài sản của V bị thu giữ, không liên quan đến việc phạm tội; được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
- - Đối với số tiền 142.000 đồng tạm giữ của Hà Xuân V, là tiền V tiêu sài còn lại từ số tiền 2.000.000 đồng mà V đã trộm cắp của chị P, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Về điều kiện kinh tế: Hà Xuân V không có tài sản chung, riêng gì có giá trị.
Hành vi trộm cắp tài sản của Hà Xuân V được chứng minh bằng vật chứng thu giữ, kết luận định giá, lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, lời khai nhận tội của bị cáo cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 BLHS xử phạt V mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 01/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 điều 47 BLHS, khoản 1 điều 48, khoản 1 điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; Khoản 2, điểm a,b khoản 3 điều 106 BLTTHS: Xác nhận cơ quan điều tra Công an thị xã P đã trả cho chị Nguyễn Thu P 01điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu tím, số Imell: 353982107960884; Imel 2: 353982108124662 (cũ đã qua sử dụng) kèm ốp lưng điện thoại và thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P là hợp pháp. Trả lại cho bị cáo V 01 căn cước công dân mang tên Hà Xuân V, 01ví giả da màu đen. Tịch thu để tiêu hủy 01 thẻ sim số0393453685. Trả lại cho chị P số tiền 142.000 đồng. Buộc Bị cáo V phải bồi thường cho chị Nguyễn Thu P số tiền 1.858.000đ.
Về án phí: Hà Xuân V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định.
Bị cáo V khi nói lời sau cùng thừa nhận đã phạm tội, đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo Hà Xuân V phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án. Vào khoảng 11 giờ 33 ngày 21/7/2024, tại quán nước của chị Nguyễn Thu P thuộc khu D, xã P, thị xã P, lợi dụng sơ hở của chị P, V đã trộm cắp của chị P một điện thoại di động Iphonce 11vỏ màu tím, kiểm tra phía sau ốp lưng điện thoại có số tiền 2.000.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P . Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 7.500.000đ. Do đó có đủ cơ ở kết luận V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an thị xã P, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất vụ án: là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo đã gây nguy hại cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã thành niên, có sức khỏe nhưng không chăm chỉ lao động để có thu nhập chính đáng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân xấu do nhiều lần bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. HĐXX cân nhắc thấy rằng cần thiết phải xử phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tác dụng để giáo dục bị cáo trở thành người có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung : Khoản 5 điều 173 BLHS qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét thấy bị cáo không có tài sản, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu tím, số Imell: 353982107960884; Imel 2: 353982108124662 (cũ đã qua sử dụng) kèm ốp lưng điện thoại và thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P, là tài sản của chị P, nên ngày 09/8/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã P trao trả lại cho của chị P tài sản trên cần xác nhận là hợp pháp.
Đối với căn cước công dân mang tên Hà Xuân V, ví giả da màu đen và thẻ sim số 0393453685 là tài sản của V bị thu giữ, không liên quan đến việc phạm tội; được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị được trả lại CCCD, ví và không yêu cầu trả lại sinm điện thoại. HĐXX thấy rằng cần trả lại CCCD và ví cho bị cáo, sim điện thoại cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 142.000 đồng tạm giữ của Hà Xuân V, là tiền V tiêu sài còn lại từ số tiền 2.000.000 đồng mà V đã trộm cắp của chị P, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ. Cần trả lại cho chị P và buộc V phải bồi thường tiếp cho chị P số tiền còn thiếu là 1.858.000đ.
Đối với chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1981, trú tại số A, Đường V, phường X, quận T, TP . là người bán nước tại địa chỉ thường trú, khai rằng không quen biết gì với V và chị P. Vào tối ngày 30/7/2024, V tới quán chị H2 uống nước và nhờ chị cho mượn tài khoản ngân hàng để chuyển tiền vào, chị H2 đồng ý nhưng không biết và cũng không hỏi nội dung, mục đích việc chuyển tiền. Ngày 31/7/2024, khi chị H2 đang bán nước chị P đến gặp và kể bị mất trộm chiếc điện thoại Iphone 11 màu tím không cài mật khẩu nên bị đối tượng trộm cắp sử dụng tài khoản Facebook của chị gọi điện đòi tiền chuộc. Chị P định vị được điện thoại ở đây và cho chị xem ảnh V và nhờ khi nào V quay lại thì chị H2 báo cho chị P. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, V quay lại quán nước của chị H2, chị H2 đã báo cho chị P để chị Phương trình B cơ quan công an bắt giữ được V, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm đối với chị H2 là phù hợp.
Đối với hành vi Hà Xuân V mượn tài khoản của chị H2 để yêu cầu chị P chuyển 4.000.000 đồng chuộc điện thoại có dấu hiệu của tội Cưỡng đoạt tài sản; Tuy nhiên, chị P chưa thực hiện việc chuyển số tiền này theo yêu cầu của V, do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý hành vi trên của V là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11F8 - 6223 mà V sử dụng đi trộm cắp tài sản như nêu trên. V khai trên đường đi do chiếc xe bị hỏng không sửa chữa được nên V đã bán dọc đường, không xác định được tên, tuổi, địa điểm bán nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1điều 51, khoản 1 điều 38; khoản 2 điều 47, Bộ luật hình sự; điểm c, khoản 2, điểm a, b, Khoản 3 điều 106, khoản 2 điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 điều 584, điều 585, khoản 1 điều 586, điều 589 Bộ luật dân sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23, khoản 1 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: H (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 01/8/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - Xác nhận cơ quan điều tra Công an thị xã P đã trả cho chị Nguyễn Thu P 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu tím, số Imell: 353982107960884; Imel 2: 353982108124662 (cũ đã qua sử dụng) kèm ốp lưng điện thoại, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu P là hợp pháp.
- - Trả lại cho bị cáo V 01 căn cước công dân mang tên Hà Xuân V, 01ví giả da màu đen.
- - Tịch thu để tiêu hủy 01 thẻ sim số 0393453685.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thu P 142.000 đồng (một trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
- - Buộc Bị cáo V phải bồi thường cho chị Nguyễn Thu P số tiền 1.858.000₫ (một triệu tám trăm năm mươi tám nghìn đồng).
(Các tài sản trên có đặc điểm như trong biên bản thu giữ vật chứng và hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ)
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị cáo còn phải trả cho bị hại tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí : Buộc Hà Xuân V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong án hình sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Lệ T |
Nơi nhận:
- - VKS huyện, tỉnh
- - Thi hành án DS:
- - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
- - Công an thị, tỉnh,
- - Lưu hồ sơ, án văn;
- - Bị cáo, Bị hại;
- - UBND xã M.
Bản án số 68/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 68/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
