Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HSST

Ngày 25/4/2024

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly; Bà Nguyễn Thị Việt Hà.
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Giàng A Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự, thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 25/3/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11/11/1990, tại T - Lai Châu; Nơi cư trú: bản P, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 4/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Lường Văn P, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Nùng Thị D, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 04 chị, em; bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Lý Thị T1, sinh năm 1989 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 18/9/2020 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tuyên phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt từ ngày 10/6/2021; hiện đã được xóa án tích;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2023, tạm giam từ ngày 05/01/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 28/12/2023, Lường Văn T đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không rõ lai lịch từ chợ thị trấn T, huyện T đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Lường Văn T mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu hồng), với giá 50.000 đồng. Mua được H, T gói thêm bên ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng rồi cầm trong lòng bàn tay phải đi bộ về nhà bản P, xã M, huyện T. Đến hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Lường Văn T đi bộ đến bản Khì 1, xã P, huyện T thì gặp tổ công tác Công an huyện T đang làm nhiệm vụ. Do sợ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị Công an phát hiện, Lường Văn T đã thả gói Heroine đang cầm trên tay xuống đất nhằm tiêu hủy chứng cứ thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Lường Văn T 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong được gói bằng mảnh ni lon màu hồng.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 144 ngày 28/12/2023 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và kết luận giám định số 93 ngày 31/12/2023 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột, màu trắng thu giữ của Lường Văn T có khối lượng 0,18 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.

Về vật chứng: 0,18 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết không hoàn lại; còn lại 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Số vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Lường Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1, Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
  2. [2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại bản Khì 1, xã P, huyện T, Lường Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.
  3. [3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi bị cáo Lường Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
  4. [4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Lường Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân bị cáo.
  5. [5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lường Văn T được sinh ra trong gia đình lao động, mặc dù có tuổi đời còn khá trẻ nhưng ăn chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó bị cáo đã từng bị kết án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

  1. [6]. Về vật chứng: Đối với 0,18 gam Heroine đã gửi làm mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
  2. [7]. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, Lường Văn T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
  3. [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
  4. [9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. Về vật chứng: Tịch thu 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy.

Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/3/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  1. Về án phí: Bị cáo Lường Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan
  • CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn T tàng trữ 0,18 gam Heroine để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger