|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày: 12 -12 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Hiệp
- Bà Phùng Thị Hoài Phương
- Bà Nguyễn Thị Tường Vi
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 355/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024; Thông báo hoãn phiên tòa số: 203/TB-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị Minh Phi (Tên gọi khác: Hân), sinh năm: 1986 tại: Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: P205 Học viện lục quân, Phường 9, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Quang Tân và bà Trần Thị Nguyệt; chồng: Lê Kim Huy, sinh năm: 1985 (Đã Ly hôn 2013); chồng: Phan Ngọc Tánh, sinh năm 1976 (Đã ly hôn năm 2023); con: Có 01 con, sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11-9-2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Kim Loan - Văn phòng Luật sư Nguyễn Loan thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Dũng, sinh năm: 1981, Nơi cư trú: F3 Khu quy hoạch An Sơn, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh Tài, sinh năm: 1989; nơi cư trú: số 8/37 Bis Võ Trường Toản, Phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Như Quỳnh, sinh năm: 2000; nơi cư trú: số 168/3/2 Huỳnh Phước, Khu phố 1, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Luyện, sinh năm: 1980; nơi cư trú: số 30 Hàn Mặc Tử, Phường Tân Thành, quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Trà Uyên Phương, sinh năm: 1980; nơi cư trú: số 71 A đường 3/2, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
- Ông Nguyễn Ngọc Hải, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Tổ 10 đường Lương Thế Vinh, Phường 3, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Bà Hồ Bảo Trân; nơi cư trú: F3 Khu quy hoạch An Sơn, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người chứng kiến:
- Ông Chiêm Thành Minh, sinh năm: 1979; nơi cư trú: 166B/3A Thạnh Hòa, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Ông Đinh Quang Huy, sinh năm: 1995; nơi cư trú: số 93 đường Trần Khánh Dư, Phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Bà Tô Hoàng Hạnh, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Chung cư Viva River Side, Phường 3, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ cuối năm 2020, thông qua bạn bè giới thiệu, Phạm Thị Minh Phi quen biết và trở thành bạn bè với ông Nguyễn Ngọc Dũng. Đến khoảng tháng 02-2022, thông qua bà Tô Hoàng Hạnh mà bị cáo Phạm Thị Minh Phi biết đến các thông tin của hai thửa đất số 21, 22, tờ bản đồ số 19, tại thôn Cổng Trời, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (Sau đây gọi tắt là hai thửa đất số 21 và số 22).
Do biết ông Nguyễn Ngọc Dũng có ý định góp tiền đầu tư làm ăn với Phi để kiếm lợi nhuận. Do đang cần tiền để trả nợ nên ngày 30-10-2022, Phi đã nảy sinh ý chiếm đoạt tiền của ông Dũng.Vì vậy, khoảng 16 giờ ngày 31-10-2022, Phi nhắn tin qua ứng dụng Zalo với ông Dũng (từ số điện thoại 0845.400.xxx của Phi đến số điện thoại 0938.405.xxx của ông Dũng) Phi đưa ra thông tin gian dối cho ông Dũng biết Phi đang thỏa thuận mua 02 thửa đất số 21 và số 22 với giá trị 22.000.000.000 đồng, đồng thời Phi cũng đã tìm được người mua lại (Bên thứ 3) hai thửa đất này với giá 23.600.000.000 đồng; số tiền đặt cọc mua đất là 3.000.000.000 đồng, chỉ cần đặt cọc đủ tiền thì sẽ tiến hành bán sang tay cho bên thứ 3 và thu về lợi nhuận 1.600.000.000 đồng. Tuy nhiên, Phi cho ông Dũng biết Phi không có đủ số tiền 3.000.000.000 đồng để đặt cọc đất và rủ vợ chồng ông Dũng cùng góp tiền để đặt cọc đất, lợi nhuận thu được sau khi bán đất sẽ chia theo tỉ lệ vốn góp. Để vợ chồng ông Dũng tin tưởng, Phi còn gửi các hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vị trí tọa độ của hai thửa đất qua Zalo cho ông Dũng xem.
Sau khi xem các thông tin về đất mà Phi gửi cho mình, tin tưởng lời Phi nói là thật nên ông Dũng quyết định góp tiền đặt cọc đất chung với Phi. Vì vậy, vào khoảng 19 giờ cùng ngày, vợ chồng ông Dũng đã đến Spa Mộc Hoa (Địa chỉ: số 95 đường Phan Bội Châu, Phường 1, thành phố Đà Lạt) để thoả thuận về việc góp tiền đặt cọc đất với Phi. Tại đây, Phi cho biết sẽ hoàn thành việc mua hai thửa đất số 21, 22 và bán lại cho bên thứ 3 để thu lợi nhuận chỉ trong thời gian 02 tuần. Sau khi thỏa thuận, vợ chồng ông Dũng quyết định góp số tiền 1.800.000.000 đồng để đặt cọc mua 02 thửa đất 21, 22 với Phi. Do tin tưởng thông tin Phi đưa ra là thật nên vợ chồng ông Dũng không đi xem đất, cũng như không kiểm tra các thông tin pháp lý của hai thửa đất này.
Ngày 01-11-2022, theo thỏa thuận thì ông Dũng phải chuyển cho Phi số tiền 1.800.000.000 đồng nhưng do chưa chuẩn bị đủ tiền nên bà Hồ Bảo Trân (Vợ ông Dũng) chỉ chuyển trước cho Phi số tiền 1.000.000.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng Vietinbank mang tên Phạm Thị Minh Phi, số tài khoản 103849769999 với nội dung: “HO BAO TRAN gop von coc dat thua so 21, 22 to bd 19, me linh, lam ha” cho Phi.
Sau khi nhận được số tiền này, ngày 01-11-2022, để ông Dũng tin tưởng việc đặt cọc mua đất là thật, Phi đã làm giả “Hợp đồng đặt cọc v.v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 01/11/2022” thể hiện nội dung: Phi đã thực hiện việc đặt cọc số tiền 3.000.000.000 đồng để mua 02 thửa đất 21, 22 cho ông Chiêm Thành Minh (Sinh năm 1979, nơi cư trú: Phường An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương). Sau đó, Phi tự lấy thông tin cá nhân của anh Nguyễn Thành Tài (Sinh năm 1989, nơi cư trú: Tổ 3, khu phố Tài Lương 4, Hoài Thành Tây, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định - là nhân viên Spa của Phi) điền vào Hợp đồng này với tư cách “Người chứng kiến”; rồi Phi tự ký tên của Phi, anh Tài và ông Minh vào trong Hợp đồng. Sau khi hoàn thành việc này, Phi đã chụp ảnh “Hợp đồng đặt cọc v.v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 01/11/2022” gửi qua Zalo cho ông Dũng nhằm cho ông Dũng tin rằng Phi đã thực hiện việc đặt cọc số tiền 3.000.000.000 đồng để mua đất của ông Chiêm Thành Minh.
Đồng thời, ngay sau khi làm giả “Hợp đồng đặt cọc v.v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 01/11/2022” thể hiện nội dung Phi đã đặt cọc số tiền 3.000.000.000 đồng để mua hai thửa đất 21, 22, cho ông Chiêm Thành Minh gửi qua Zalo cho ông Dũng, để ông Dũng tin tưởng và tiếp tục chuyển tiền, Phi tiếp tục làm giả thêm “Hợp đồng đặt cọc V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 01/11/2022” thể hiện nội dung ông Đinh Quang Huy (Sinh năm 1995, nơi cư trú: Khu phố 3, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) thực hiện việc đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng mua hai thửa đất 21, 22 của Phi bằng cách: Nhờ Trần Thị Như Quỳnh (Nhân viên Spa của Phi) viết nội dung và ký vào Hợp đồng này với vai trò người chứng kiến. Còn Phi tự ký, ghi họ tên Phạm Thị Minh Phi vào bên bán và tự ký, ghi họ tên Đinh Quang Huy vào bên mua của Hợp đồng này.
Do tin tưởng việc Phi đặt cọc mua đất của ông Minh là thật, sáng ngày 02-11-2022, ông Dũng tiếp tục chuyển cho Phi số tiền 800.000.000 đồng thông qua tài khoản Ngân hàng Vietinbank mang tên Phạm Thị Minh Phi, số tài khoản 103849769999; với nội dung: CT DAU TU TD 21,22 TBD 19 TAI XA ME LINH, H LAM HA.
Lúc này, để có căn cứ thể hiện việc ông Dũng góp tiền mua đất, ông Dũng yêu cầu Phi cung cấp cho giấy tờ để ghi nhận việc này. Vì vậy, Phi đã viết tay “Giấy mượn tiền” thể hiện nội dung Phi vay của vợ chồng ông Dũng số tiền 1.800.000.000 đồng để mua hai thửa đất 21, 22; lợi nhuận sau 20 ngày là 960.000.000 đồng; cam kết đến ngày 20-11-2022 sẽ trả số tiền 2.760.000.000 đồng cho vợ chồng ông Dũng; tại mặt sau Phi xác nhận 02 lần nhận tiền của vợ chồng ông Dũng với tổng số tiền 1.800.000.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ ngày 02-11-2022, Phi mang bản gốc Giấy mượn tiền đến Phòng giao dịch VCB (Địa chỉ: đường Hùng Vương, phường 9, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đưa cho bà Hồ Bảo Trân cất giữ.
Sau khi nhận được số tiền 1.800.000.000 đồng của ông Dũng, Phi không sử dụng để đặt cọc mua đất mà sử dụng để trả nợ, cụ thể: trả cho Huỳnh Mộng Thảo tổng số tiền 1.040.000.000 đồng, trả cho Nguyễn Thị Luyện số tiền 600.000.000 đồng, trả cho Nguyễn Trà Uyên Phương số tiền 100.000.000 đồng và trả cho ông Nguyễn Ngọc Hải số tiền 100.000.000 đồng.
Đến thời hạn trả lại tiền góp mua đất, Phi liên tục đưa ra các lý do khác nhau để ông Dũng tin tưởng Phi vẫn đang thực hiện việc mua bán hai thửa đất 21, 22 nêu trên.
Sau đó, do nghi ngờ nên ông Dũng đã kiểm tra và phát hiện sự việc nên đã làm đơn tố cáo Phạm Thị Minh Phi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng. Tại Cơ quan điều tra Phi đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. (BL: 64-186; 347- 390; 468- 474; 475- 477; 478-531; 532-563).
Tang vật thu giữ:
- 01 Bản gốc “Giấy mượn tiền đề ngày 01/11/2022” thể hiện nội dung bà Phạm Thị Minh Phi nhận của ông Nguyễn Ngọc Dũng số tiền 1.800.000.000 đồng. (BL: 240).
- 01 Bản gốc “Hợp đồng đặt cọc đề ngày 01/11/2022” thể hiện việc ông Đinh Quang Huy đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng cho Phạm Thị Minh Phi. (BL: 246).
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng Gold, số Imei G0NFG7AE0D51. (BL: 17).
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 màu đỏ; Biển kiểm soát: 49A-304.23; Số máy: P520640543; Số khung: RN2B14AA6KM024902 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 2251519, do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 06/7/2022. (BL: 187).
- 01 Bằng khen do Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Thành phố Đà Nẵng tặng cho Phạm Thị Minh Phi ngày 28-7-2022 vì đã có nhiều thành tích trong hoạt động từ thiện nhân đạo, đóng góp cho công tác an sinh - xã hội trên địa bàn huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng giai đoạn 2020-2022 (Sao y bản chính - do VPCC Phạm Lan Anh chứng thực vào ngày 19-9-2023). (BL: 251; 252)
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra Lệnh kê biên tài sản đối với 04 thửa đất do Phạm Thị Minh Phi đứng tên quyền sử dụng gồm:
- Quyền sử dụng Thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 09, tại xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 890710 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 07/3/2022 tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) Chi nhánh Lâm Đồng;
- Quyền sử dụng Thửa đất số 1011, tờ bản đồ số 09, tại xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 890711 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 07/3/2022 tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) Chi nhánh Lâm Đồng;
- Quyền sử dụng Thửa đất số 1012, tờ bản đồ số 09, tại xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 890712 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 07/3/2022 tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) Chi nhánh Lâm Đồng;
- Quyền sử dụng Thửa đất số 1013, tờ bản đồ số 09, tại xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 890713 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 07/3/2022 tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) Chi nhánh Lâm Đồng.
Hiện 04 thửa đất này giao cho Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) Chi nhánh Lâm Đồng bảo quản, cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền. (BL: 27).
Tại kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Chữ viết phần nội dung và chữ ký, chữ viết ghi họ tên Phạm Thị Minh Phi trân tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Phạm Thị Minh Phi trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người ký và viết ra. (BL: 242).
Tại kết luận giám định số 961/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
Chữ viết phần nội dung trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Phạm Thị Minh Phi trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người viết ra.
Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Phạm Thị Minh Phi trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Phạm Thị Minh Phi trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký và viết ra.
Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Đinh Quang Huy trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Đinh Quang Huy trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một người ký và viết ra.
Không đủ cơ sở kết luận hai dấu vân tay dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” in trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với dấu vân tay của Phạm Thị Minh Phi in trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 có phải là dấu vân tay của cùng một người in ra hay không
Hai dấu vân tay dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” in trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với dấu vân tay của Đinh Quang Huy in trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải dấu vân tay của cùng một người in ra. (BL: 249)
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Dũng, sinh năm: 1981, nơi cư trú: F3 KQH An Sơn, phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng bị Phi chiếm đoạt số tiền 1.800.000.000 đồng, hiện nay Phạm Thị Minh Phi có đã khắc phục cho ông Dũng số tiền 750.000.000 đồng, ông Dũng yêu cầu Phi bồi thường số tiền còn lại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phi. (BL: 40; 41; 468-477).
Bản cáo trạng số: 54/Ctr-VKSLĐ-P1 ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Phạm Thị Minh Phi về tội “Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Minh Phi thừa nhận diễn biến vụ việc đúng như Cáo trạng và không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản Cáo trạng.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Minh Phi phạm tội “Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Minh Phi từ 13 đến 15 năm tù.
Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo và Luật sư Nguyễn Thị Kim Loan bào chữa cho bị cáo tranh luận nội dung thống nhất như sau:
Đồng ý với tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố, luận tội; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã khắc phục được cho bị hại số tiền 750.000.000 đồng, giai đoạn chuẩn bị xét xử đã bồi thường thêm cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có nhân thân tốt, trước khi phạm tội có nhiều thành tích trong hoạt động từ thiện nhân đạo, đóng góp cho công tác an sinh - xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo, đồng thời áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung liền kề đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Phạm Thị Minh Phi gửi lời xin lỗi đến bị hại; bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội trở lại cộng đồng, lao động và làm việc khắc phục hậu quả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, người liên quan ông Nguyễn Thanh Tài, bà Trần Thị Như Quỳnh, bà Nguyễn Thị Luyện, ông Nguyễn Ngọc Hải; người chứng kiến ông Đinh Quang Huy đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa nên đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để trả nợ và xử lý công việc riêng của cá nhân, nên Phạm Thị Minh Phi đưa ra thông tin gian dối rằng bị cáo đã đứng đặt cọc mua 02 thửa đất 21, 22, tờ bản đồ 19, tại thôn Cổng Trời, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, nên rủ ông Nguyễn Ngọc Dũng cùng tham đầu tư chung để kiếm lời, dẫn đến ông Dũng tin tưởng nên trong thời gian từ ngày 30-12-2022 cho đến ngày 02-12-2022 đã chuyển cho Phạm Thị Minh Phi tổng số tiền 1.800.000.000 đồng, sau khi chiếm đoạt được tiền của ông Nguyễn Ngọc Dũng bị cáo không sử dụng vào việc đặt cọc mua đất mà chiếm dụng để sử dụng vào việc riêng.
Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ tài sản hợp pháp của cá được pháp luật bảo vệ nhưng cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt của bị hại số tiền 1.800.000.000 đồng như đã nêu trên nên đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; do trị giá tài sản bị chiếm đoạt trên 500.000.000 đồng nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Ngọc Dũng số tiền 750.000.000 đồng, giai đoạn xét xử bị cáo bồi thường thêm số tiền 150.000.000 đồng, tổng số tiền bị cáo đã bồi thường là 900.000.000 đồng/1.800.000.000 đồng cho bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo được tặng Bằng khen vì đã có nhiều thành tích trong hoạt động từ thiện nhân đạo, đóng góp cho công tác an sinh - xã hội trên địa bàn huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2020-2022 nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo hộ; gây bất ổn trong hoạt động kinh doanh, mua bán bất động sản; mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù bị cáo thuộc trường hợp nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nhưng phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, do đó cần có một mức án nghiêm tương xứng, đồng thời cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian thích hợp để giáo dục, răn đe nhằm phòng ngừa chung và đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, qua xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ thì thấy rằng bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt khi lượng hình.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại ông Nguyễn Ngọc Dũng là 1.800.000.000 đồng; giai đoạn điều tra và xét xử bị cáo đã khắc phục, bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc Dũng được số tiền 900.000.000 đồng và được ông Nguyễn Ngọc Dũng xác định. Nay ông Nguyễn Ngọc Dũng tiếp tục yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 900.000.000 đồng chưa bồi thường thì bị cáo đồng ý nên cần tiếp tục buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường.
[7] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước các vật chứng có giá trị liên quan đến hành vi phạm tội đã được cơ quan điều tra thu giữ:
01 (Một) phong bì niêm phong màu trắng, một mặt có hình in lô gô ngành công an, có chữ: “BỘ CÔNG AN”, “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG”, “Kính gửi:....”, một mặt tại mép có thể mở ra được của phong bì có chữ ký, họ tên: “Phạm Thị Minh Phi, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Vũ Thế Việt, Phan Thị Minh Tân, phong bì được dán kín bằng băng keo trong. Theo bản phô tô biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 24-4-2024, bên trong chứa: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold. Còn nguyên niêm phong, không tiến hành kiểm tra chất lượng bên trong.
Đối với các vật chứng khác, do không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trong giai đoạn điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không đề cập.
[8] Về biện pháp cưỡng chế: Tiếp tục duy trì lệnh kê biên tài sản do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng thực hiện trong giai đoạn điều tra nhằm nhằm bảo đảm nghĩa vụ thi hành án.
[9] Về các vấn đề khác:
Trong vụ án, Trần Thị Như Quỳnh đã có hành vi viết nội dung Hợp đồng đặt cọc v.v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 01-11-2022 và ký tên, ghi họ tên và lăn tay vào Hợp đồng này trong khi không tham gia chứng kiến giao dịch đặt cọc đất. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện việc này, Quỳnh đang là nhân viên của Spa Mộc Hoa của Phi, việc viết Hợp đồng là thực hiện theo yêu cầu của Phi. Quỳnh cũng tin tưởng giao dịch đặt cọc đất thể hiện trong Hợp đồng là có thật, không biết việc bà Phi sử dụng Hợp đồng này để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cơ quan điều tra xác định hành vi của Quỳnh không đồng phạm với bị cáo Phi về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp.
Đối với Huỳnh Mộng Thảo: Hiện nay chưa làm việc được nên Cơ quan cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đang tiếp tục xác minh, làm rõ về hành vi liên quan của bà Huỳnh Mộng Thảo để xử lý sau là đảm bảo.
Quá trình điều tra, Cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Ngày 21-02-2023, bị cáo thực hiện vay số tiền 299.949.300 đồng của Công ty Cổ phần kinh doanh F88 (Công ty F88), với tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, biển kiểm soát 49A-304.23 (giao dịch bảo đảm được Công ty F88 đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản Hà Nội). Từ khi vay tiền cho đến nay, bị cáo Phi chưa thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào cho Công ty F88. Tính đến ngày 05-7-2024, số tiền bị cáo Phi có nghĩa vụ thanh toán là 460.498.785 đồng, trong đó dư nợ gốc là 299.949.300 đồng. Căn cứ vào đề nghị của Công ty F88, ngày 13-8-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bị tạm giữ đối với: 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 màu đỏ; Biển kiểm soát: 49A-304.23 và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 2251519 do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng ngày 06/7/2022. Hình thức: Giao cho Công ty F88 để xử lý thu hồi nợ đối với khoản tiền 460.498.785 đồng mà bị cáo Phạm Thị Minh Phi nợ Công ty F88. Đồng thời có văn bản yêu cầu Công ty F88 chuyển số tiền dư sau khi thu hồi nợ (nếu có) vào tài khoản tạm gửi của Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng (Số tài khoản 3949.0.9076112.00000; mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Lâm Đồng) để phục vụ quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với bị cáo Phạm Thị Minh Phi là phù hợp và đảm bảo.
Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng còn thụ lý giải quyết tố giác về tội phạm của bà Đặng Thị Thanh An, Nguyễn Ngọc Dũng Nguyễn Thị Tố TrâmNguyễn Ngọc Dũng, ông Nguyễn Viết LongNguyễn Ngọc Dũng, ông Hoàng Như SơnNguyễn Ngọc Dũng, bà Phạm Dương Quỳnh AnhNguyễn Ngọc Dũng, bà Phạm Dương Hồng Anh, Nguyễn Ngọc Dũng bà Trịnh Thị Thủy Nguyễn Ngọc Dũng, bà Nguyễn Trà Uyên Phương Nguyễn Ngọc Dũng, bà Châu Thị HạnhNguyễn Ngọc Dũng và bà Nguyễn Ngọc Trang Nguyễn Ngọc Dũng cùng tố cáo Phạm Thị Minh Phi có hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau khi kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng nhận thấy giữa Phạm Thị Minh Phi và những người tố giác nêu trên chỉ là tranh chấp trong giao dịch dân sự; hành vi của Phạm Thị Minh Phi không cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với các tố giác về tội phạm nêu trên nên không đề cập trong vụ án này.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội phạm và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Minh Phi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Minh Phi 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 11-9-2023)
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Bị cáo Phạm Minh Phi có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc Dũng số tiền 900.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (Một) phong bì niêm phong màu trắng, một mặt có hình in lô gô ngành công an, có chữ: “BỘ CÔNG AN”, “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG”, “Kính gửi:....”, một mặt tại mép có thể mở ra được của phong bì có chữ ký, họ tên: “Phạm Thị Minh Phi, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Vũ Thế Việt, Phan Thị Minh Tân, phong bì được dán kín bằng băng keo trong. Theo bản phô tô biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 24-4-2024, bên trong chứa: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold. Còn nguyên niêm phong, không tiến hành kiểm tra chất lượng bên trong.
(Vật chứng nêu trên, số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng được ghi tại Quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ-VKSLĐ-P1 ngày 30-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng).
-
Về biện pháp cưỡng chế: Áp dụng Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 185/LKB-VPCQCSDT ngày 22-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Minh Phi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 39.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại, người liên quan có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quán; người liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị kết án; xử phạt 20 năm tù
