Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 27 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Hằng

Các hội thẩm nhân dân : Ông Lê Đăng Thiện

Ông Nguyễn Văn Sâm

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân- Thư ký Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên toà:

Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST - HS ngày 16/9/2024 đối với Bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1987 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Nguyễn Văn T, sinh năm 1952; Mẹ: Đỗ Thị C, sinh năm 1953; Gia đình có 06 anh em, Bị cáo là con thứ 4; Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1991; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 15/7/2024 được áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Lê Thị T1, sinh năm 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu D thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1966. Vắng mặt
  2. Địa chỉ: Thôn H xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1968. Có mặt
  4. Địa chỉ: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 08/7/2024 do không có tiền tiêu sài nên Nguyễn Văn L, sinh năm 1987, trú tại thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 06h cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B3-784.87 từ nhà đi đến bệnh viện đa khoa huyện T và gửi xe tại đây rồi đi bộ xung quanh khu vực thị trấn T tìm người dân sơ hở để trộm cắp tài sản. L đi bộ đến trước nhà chị Lê Thị T1, sinh năm 1993, trú tại khu D thị trấn T, huyện T quan sát thấy ở lề đường đối diện nhà chị T1 (giáp bờ tường của trường THPT L1) có xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 36B4-228.69 của chị T1 đang cắm chìa khoá ở trong ổ khoá, thân xe vuông góc với trục đường, đầu xe hướng vào bờ tường trường THPT L1, đuôi xe hướng ra đường. Lan quan sát thấy đông người qua lại ở đường, sợ bị phát hiện nên không giám lấy trộm ngay, L quay lại về khu Bệnh viện đa khoa huyện T ngồi đợi đến trưa khi vắng người sẽ quay lại trộm cắp xe mô tô.

Đến khoảng gần 12h trưa cùng ngày, L đi bộ quay lại khu D thị trấn T thì thấy xe mô tô biển kiểm soát 36B4-228.69 vẫn ở vị trí cũ, đang cắm chìa khoá ở trong ổ khoá. L quan sát xung quanh không thấy ai nên đã đi đến đá chân chống xe lên, dắt xe mô tô biển kiểm soát 36B4-228.69 lùi lại khoảng 02m ra ngoài đường rồi ngồi lên xe. L lấy tay phải vặn chìa khoá để nổ máy nhưng không nổ được máy, L tiếp tục làm lại lần nữa nhưng vẫn không nổ được máy. Lúc này chị Nguyễn Thị H là người làm thuê cho nhà chị T1 đi từ trong nhà chị T1 ra ngoài đường. L thấy bị phát hiện nên đá chân chống dựng xe tại chỗ rồi đi về Bệnh viện lấy xe mô tô biển kiểm soát 36B3 -784.87 đi về nhà.

Khoảng 06h 30 phút ngày 09/7/2024 chị Lê Thị T1 đến Công an huyện T trình báo về việc khoảng 12h05 phút ngày 08/7/2024 có một người đàn ông lạ mặt đến trước cổng nhà chị T1 rồi vào khu vực để xe dắt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B4-228.69 (xe của chị T1). Người này trộm chiếc xe nhưng không nổ máy đi được sau đó có người trong nhà đi ra nên để lại xe và bỏ đi. Đồng thời chị T1 giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B4-228.69 nhãn hiệu Honda Vision màu trắng xe đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 026274 mang tên chủ xe là Lê Thị T1 và 01 đĩa DVD bên trong chứa đoạn video liên qua đến vụ việc.

Ngay sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với Công an thị trấn T lấy lời khai Bị hại, người làm chứng và trích xuất Camera gia đình truy tìm đối tượng.

Sáng ngày 09/7/2024 L tiếp tục đi xe mô tô đến gửi ở Bệnh viện rồi đi bộ xung quanh thị trấn T tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi bộ ở khu vực thị trấn T nghe được thông tin Cơ quan Công an đang điều tra vụ trộm cắp tài sản. Nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân không thể trốn tránh được pháp luật nên L đã đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp của mình.

Ngày 09/7/2024 anh Hoàng Văn T3 đại diện Bệnh viện đa khoa huyện T giao nộp 05 file video liên quan đến vụ việc.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L, Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 áo cộc tay màu xanh, tại mặt trước in hình la bàn màu trắng; 01 quần ngố dài đến đầu gối, bằng vải, viền trong cạp quần màu đỏ, in nhãn hiệu “FASHION”, quần áo đã qua sử dụng (là quần áo Lan mặc trộm cắp tài sản ngày 08/7/2024).

Tại Cơ quan điều tra L khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B3 -784.87 nhãn hiệu Honda RSX, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 049090 mang tên chủ xe là Nguyễn Văn T2 trú tại thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại Bản kết luận giám định số 2783/KL-KTHS ngày 29/7/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 06 tệp video của 02 đĩa CD-R gửi giám định; Trích xuất 1 số hình ảnh trong tệp video gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho L xem lại hình ảnh trong video, L xác nhận hình ảnh trong video là Bị cáo.

Ngày 09/7/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL - HĐĐG ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị xe mô tô biển kiểm soát 36B4-228.69 nhãn hiệu Honda Vision màu trắng tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị 14.800.000đ;

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B4-228.69 nhãn hiệu Honda Vision màu trắng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 026274 cho chủ sở hữu là chị Lê Thị T1; Trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B3 -784.87 nhãn hiệu Honda RSX, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 049090 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T2 trú tại thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 áo cộc tay màu xanh, tại mặt trước in hình la bàn màu trắng; 01 quần ngố dài đến đầu gối, bằng vải, viền trong cạp quần màu đỏ, in nhãn hiệu “FASHION”, quần áo đã qua sử dụng; 01 đôi dép xốp màu đen đã qua sử dụng; 01 khẩu trang y tế màu xanh đã qua sử dụng hiện đang quản lý theo quy định pháp luật.

Về phần Dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì và xin giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự đối với Bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 72/CT - VKS ngày 12/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, 2 điều 51; Điều 36; Điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 điều 106; Khoản 1 điều 331; Khoản 1 điều 333; Khoản 2 điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, không khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo; Buộc Bị cáo phải phải chịu án phí HSST là 200.000đ. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 áo cộc tay màu xanh, tại mặt trước in hình la bàn màu trắng; 01 quần ngố dài đến đầu gối, bằng vải, viền trong cạp quần màu đỏ, in nhãn hiệu “FASHION”, quần áo đã qua sử dụng; 01 đôi dép xốp màu đen đã qua sử dụng; 01 khẩu trang y tế màu xanh. Bị cáo và Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bị cáo, người Bị hại trong quá trình điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản thu giữ tang vật, lời khai của người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào ngày 08/7/2024 Bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 36B4-228.69 màu trắng trị giá 14.800.000đ của chị Lê Thị T1. Do đó hành vi của Bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”.

Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Cáo trạng số 72/CT - VKS ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Hành vi đó đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là thanh niên nhưng lười lao động, không chịu khó làm ăn, tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ tài sản trên công sức lao động của người khác. Bị cáo đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người Bị hại. Điều đó chứng tỏ rằng Bị cáo rất coi thường pháp luật.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Bị cáo: Khi xem xét về nhân thân của Bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Bị cáo khai báo thành khẩn; Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, h, i khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo đã đầu thú và Bị hại có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo nên Bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly xã hội đối với Bị cáo mà áp dụng điều 36 Bộ luật Hình sự cho Bị cáo được Cải tạo không giam giữ cũng đủ điều kiện để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Hiện tại Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

[ 7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo cộc tay màu xanh, tại mặt trước in hình la bàn màu trắng; 01 quần ngố dài đến đầu gối, bằng vải, viền trong cạp quần màu đỏ, in nhãn hiệu “FASHION”, quần áo đã qua sử dụng; 01 đôi dép xốp màu đen đã qua sử dụng; 01 khẩu trang y tế màu xanh đều là vật không còn giá trị và không sử dụng được nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm s, i, h khoản 1, 2 điều 51; Điều 36 BLHS;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 08(tám) tháng Cải tạo không giam giữ được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam(từ ngày 09/7/2024 đến ngày 15/7/2024) là 06 ngày x 3 = 18 ngày Cải tạo không giam giữ, thời gian còn lại phải chấp hành án Cải tạo không giam giữ là 07 tháng 12 ngày; Không khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao Bản án của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân. Giao Bị cáo Nguyễn Văn L cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian Cải tạo không giam giữ. Người bị kết án Cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo cộc tay màu xanh, tại mặt trước in hình la bàn màu trắng; 01 quần ngố dài đến đầu gối, bằng vải, viền trong cạp quần màu đỏ, in nhãn hiệu “FASHION”, quần áo đã qua sử dụng; 01 đôi dép xốp màu đen đã qua sử dụng; 01 khẩu trang y tế màu xanh đã qua sử dụng;

Toàn bộ vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 80 ngày 16/9/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhân:

- VKSND huyện Thọ Xuân;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa

- THA dân sự;

- THA hình sự Công an

huyện Thọ Xuân

- UBND xã Xuân Sinh, huyện Thọ Xuân,

tỉnh Thanh Hóa;

- Bị cáo; Bị hại;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Lan trộm cắp xe máy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger