|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HSST
Ngày 24 - 09 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Ông Cao Trung Kiên
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm: 1994; Giới tính: Nam; Nơi sinh, nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1964; con bà: Lâm Thị M, sinh năm 1964; Gia đình có 03 chị em, T là thứ 3; Vợ: Hoàng Hạnh N, sinh năm 1995; con: có 01 con sinh năm 2018; Tiền án: Ngày 30/05/2022, Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; chấp hành xong án phạt tù ngày 15/01/2024; thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/10/2022. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/11/2011, bị Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 08/11/2011, xác minh tại địa phương không còn lưu trữ hồ sơ thi hành án treo của Phạm Văn T; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/05/2024, bị tạm giam từ ngày 05/06/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 ngày 27/5/2024, T cầm theo 200.000 đồng rồi đi bộ một mình ra khu vực ngã tư C thuộc xã N, huyện N rồi xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đi đến khu vực cầu L, xã V, huyện T với mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi, T xuống xe, đi bộ ra khu vực đường đê bên dưới gầm cầu L thì gặp một người đàn ông không quen biết đang dựng xe máy ở lề đường. Nghĩ người này có bán ma tuý, T đi lại gần hỏi và mua được của người đàn ông này 01 (một) gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 200.000 đồng rồi cầm ở tay trái đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến 18 giờ cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường trục xã thuộc xóm C, xã V, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của T 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng; T tự giác khai nhận đây là gói Heroine của T vừa mua, cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Cơ quan Công an tiến hành niêm phong gói vừa thu giữ của T theo quy định, ký hiệu M. Ngoài ra không thu giữ gì thêm.
Bản kết luận giám định số: 1004/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của phòng K1, Công an tỉnh N xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý Heroin. Khối lượng mẫu M: 0,232 gam.
Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh chờ xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng số 62/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 08 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX, tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt Phạm Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/05/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Heroine thu của Phạm Văn T.
Bị cáo Phạm Văn T đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
- Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/5/2024 Phạm Văn T có hành vi cất giấu chất ma túy có trọng lượng 0,232 gam ma túy Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
- Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Bị cáo có nhân thân, có tiền án ngày 30/05/2022, Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; chấp hành xong án phạt tù ngày 15/01/2024; thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/10/2022, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình mà còn tiếp tục vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung.
- Hình phạt bổ sung: HĐXX thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine đã thu của Phạm Văn T.
- Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/05/2024.
- Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Phạm Văn T có trong bì thư số 1004/GĐKTHS của phòng K1 Công an tỉnh N (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 68/THA ngày 09 tháng 09 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thu |
Bản án số 68/2024/HSST ngày 24/09/2024 của Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
