Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐỐP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 68/2024/HSST

Ngày: 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều My

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Thanh Hải và ông Mai Văn Rạng

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thúy Hằng - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dạ Thảo – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/HSST ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hảo D, sinh năm 1981 tại Thái Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Hảo S và bà Hoàng Thị Q; Bị cáo có vợ tên Hoàng Thị H và 02 người con, sinh năm 2010 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Phạm Thị Thanh H1, sinh năm 1993 – Vắng mặt
  • Địa chỉ: Ấp S, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương
  • - Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1981 – Có mặt
  • Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước
  • - Bà Hoàng Thị S1, sinh năm 1978 – Vắng mặt
  • - Ông Hà Quang H2, sinh năm 1976 – Vắng mặt
  • Địa chỉ: Ấp Phước Tiến, xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
  • Chỗ ở: Khu phố Bình Phước B, phường Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/12/2023, công an huyện B phối hợp với Đồn Biên phòng B đi tuần tra, kiểm soát tại khu thôn B, xã T, thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hảo D điều khiển xe ô tô hiệu Kia, loại CERATO, màu đen, biển số 61A-476.50 chở theo bên trong cốp sau xe ô tô 02 bao tải màu đen đựng pháo nổ các loại, tổng cộng 131,85kg cùng một số vật chứng khác có liên quan.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hảo D khai nhận: trong thời gian tạm trú tại khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương, D quen biết với Hoàng Văn N. Do có nhu cầu mua pháo nổ về bán lại kiếm lời nên ngày 25/12/2023 D điện thoại cho N đặt mua 75 hộp pháo hoa nổ; 05 bịch pháo banh với số tiền 38.500.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/12/2023 N điện thoại cho D hẹn giao pháo tại huyện B. D mượn xe ô tô hiệu Kia, loại CERATO, màu đen, biển số 61A-476.50 của Phạm Thị Thanh H1 điều khiển lên huyện B, tỉnh Bình Phước để mua pháo nổ và vận chuyển pháo về tỉnh Bình Dương. Khi lên đến B, D vào gara ô tô (không rõ địa chỉ) để rửa xe và đợi N điện thoại dẫn đi lấy pháo. Khi N điện thoại D, D mượn xe mô tô của chủ gara rửa xe đi lên chợ T1 gặp N. N điều khiển xe mô tô màu xám, không rõ biển số chạy trước dẫn đường cho D đến địa điểm giao pháo tại khu vực nghĩa địa (không rõ địa chỉ). Tại đây, D đưa trước số tiền mua pháo cho N là 35.000.000 đồng. Sau đó, D điều khiển xe mô tô quay lại gần chợ T1 ngồi uống nước tại quán cà phê (không rõ địa chỉ) để chờ N đi lấy pháo. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/12/2023 N điện thoại cho D vào địa điểm giao pháo. D điều khiển xe ô tô biển số 61A-476.50 đến khu vực nghĩa địa để lấy pháo. Vào đến nơi, D ngồi trên xe ô tô, dùng tay bật công tắc mở cốp sau xe ô tô để Nam chất pháo lên cốp xe ô tô. Sau khi chất pháo xong, D chuyển trả cho N số tiền 3.000.000 đồng còn lại vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Quang T và điều khiển xe ô tô vận chuyển số pháo vừa mua được về tỉnh Bình Dương để bán. Khi vận chuyển đến khu vực đèn giao thông thuộc thôn B, xã T, huyện B thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, D còn khai nhận: Khoảng giữa tháng 12/2023, khi chở Hà Quang H2 lên huyện B thăm nhà, H2 đã giới thiệu N với D để D đặt mua của N 25 hộp pháo nổ với giá khoảng hơn 10.000.000 đồng. Khi mua pháo xong, D vận chuyển về Bình Dương, còn tiền thì chuyển khoản sau. Ngày hôm sau, D đưa cho Hoàng Thị S1 (chị gái của N) số tiền 3.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản hai lần cho S1, một lần là 6.780.000 đồng và lần thứ hai là 1.500.000 đồng để trả tiền mua pháo cho N.

Tại Kết luận giám định số 1311/KL-KTHS ngày 31 tháng 12 năm 2023 của Phòng K - Công an tỉnh B xác định:

  • + 75 khối hình hộp, ký hiệu M1 được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắc. Tổng khối lượng là 129,65kg.
  • + Viên hình cầu bên trong 05 túi nylon, ký hiệu M2, được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ, có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn. Tổng khối lượng 05 túi là 2,2kg.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hảo D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 9-10 năm tù.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/12/2023, bị cáo Nguyễn Hảo D đã có hành vi mua 131,85kg pháo nổ nhằm mục đích mang về bán lại kiếm lời. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số 59/Ctr-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp và bản luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích của bản thân nên bị cáo cố ý phạm tội. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; cha bị cáo là bệnh binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

  • - 114kg pháo nổ còn lại sau giám định; 02 bao tải màu đen có kích thước 59cm x 103cm; 10 (mười) túi ni lông màu đen là hàng cấm và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 điện thoại màu vàng, hiệu Iphone, loại máy (tên kiểm máy) Iphone 13Pro Max, số I, Sim số 0971379368 của Nguyễn Hảo D dùng để liên lạc mua bán pháo cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Hảo Dân số [...] cấp ngày 28/11/2018; 01 thẻ VISA do ngân hàng M phát hành có số ID113178072, số thẻ 4726 7400 1156 4446; 01 thẻ Napas do ngân hàng M phát hành có số thẻ 9704 2220 2449 2159; 01 thẻ lái xe Adsun; 01 giấy báo có số NTTK34549/23 do công ty Cổ phần Đ phát hành ngày 08/12/2023 là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
  • - 01 xe ô tô hiệu Kia, loại CERATO, màu đen, biển số 61A-476.50; số máy: G4FGJH699197; số khung: 41A6JC125731, do bà Phạm Thị Thanh H1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu; bà H1 không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán pháo, Cơ quan CSĐT- Công an huyện B đã trả lại cho bà H1 là có cơ sở.

[7] Những vấn đề khác

  • - Đối với hành vi mua bán pháo nổ vào khoảng giữa tháng 12/2023 của bị cáo. Do không thu giữ được vật chứng nên không có căn cứ xác định được trọng lượng và giám định pháo. Do đó không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi buôn bán hàng cấm ở lần này.
  • - Đối với Hoàng Văn N là người bị cáo khai đã bán pháo cho bị cáo. Tuy nhiên, N khai không quen biết và không mua bán pháo với bị cáo. Số điện thoại 0387.509.xxx dùng để gọi điện cho bị cáo (bị cáo khai là số điện thoại của N) trao đổi mua bán pháo nổ, qua xác minh chủ thuê bao là bà Lê Thị L, sinh năm: 1957; Nơi thường trú: thôn L, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, không phải do N đứng tên chủ thuê bao. Số tài khoản 0987765610 nhận tiền từ tài khoản của bị cáo chuyển vào cũng không phải số tài khoản của N mà của Nguyễn Quang T. Kết quả điều tra đến nay, không đủ căn cứ xử lý Hoàng Văn N về tội Buôn bán hàng cấm là có cơ sở.
  • - Đối với Hà Quang H2, Hoàng Thị S1, quá trình điều tra xác định H2 và bị cáo có mối quan hệ mua bán đá uống nước với nhau. Khoảng tháng 12/2023 H2 có thuê bị cáo chở đến huyện B để về thăm nhà. H2 không thừa nhận việc giới thiệu người bán pháo và mua pháo giùm cho bị cáo, không thừa nhận số tiền 1.500.000 đồng và 6.780.000 đồng bị cáo chuyển vào tài khoản của Hoàng Thị S1 (vợ H2) là tiền mua bán pháo nổ. Sâm xác định số tiền bị cáo chuyển khoản vào tài khoản của S1 là tiền bị cáo trả tiền nước đá mà gia đình bị cáo nợ S1 và tiền bị cáo chuyển trả cho H2 (chồng S1) do bị cáo mượn của H2 trước đó. Việc bị cáo khai đã cùng H2 lên B để gặp N mua pháo không có ai chứng kiến, không có tài liệu chứng minh, chỉ duy nhất lời khai của bị cáo. Vì vậy kết quả điều tra đến nay cũng không đủ căn cứ xử lý Hà Quang H2, Hoàng Thị S1 với vai trò đồng phạm trong vụ án với bị cáo về tội buôn bán hàng cấm.
  • - Đối với Hoàng Thị H là vợ của bị cáo, quá trình điều tra xác định: H không biết việc mua bán pháo nổ của bị cáo. Việc H thực hiện giao dịch chuyển khoản số tiền là 2.700.000 đồng từ tài khoản của bị cáo sang số tài khoản ngân hàng B1 số 65110002359013 của H vào ngày 27/12/2023 là do bị cáo cung cấp mật khẩu cho H.
  • - Đối với Nguyễn Quang T, là nhân viên quản lý tại cửa hàng điện thoại di động Quang Thắng và cung cấp dịch vụ nhận, chuyển tiền cho khách hàng. Sau khi khách hàng chuyển tiền đến thì T đưa lại tiền mặt cho khách và có thu phí. Việc bị cáo có chuyển tiền vào tài khoản của T để N đến lấy tiền mặt hay không T không nhớ do số lượng giao dịch nhiều, camera lưu trữ cũng không còn dữ liệu. T không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
  • - Đối với số điện thoại 0387.509.xxx là của bà Lê Thị L, bà L không đăng ký sử dụng số 0387509083 và cũng không cho ai mượn Căn cước công dân hoặc thông tin cá nhân để đăng ký số 0387509083. Bà L không liên quan đến vụ án nên không đề cập xử lý là có cơ sở.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hảo D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hảo D 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/12/2023).

[2]. Vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

  • - Tịch thu tiêu hủy 114kg pháo nổ còn lại sau giám định; 02 bao tải màu đen có kích thước 59cm x 103cm; 10 (mười) túi ni lông màu đen.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Hảo Dân số [...] cấp ngày 28/11/2018; 01 thẻ VISA do ngân hàng M phát hành có số ID113178072, số thẻ 4726 7400 1156 4446; 01 thẻ Napas do ngân hàng M phát hành có số thẻ 9704 2220 2449 2159; 01 thẻ lái xe Adsun; 01 giấy báo có số NTTK34549/23 do công ty Cổ phần Đ phát hành ngày 08/12/2023.
  • - Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại màu vàng, hiệu Iphone, loại máy Iphone 13 Promax, số I, Sim số 0971379368 nộp Ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0007919 ngày 27/5/2024 giữa cơ quan CSĐT công an huyện B và Chi cục THADS huyện B)

[3]. Án phí: Áp dụng Điều 15 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đốp;
  • - Công an huyện Bù Đốp;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đốp;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Kiều My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về buôn bán hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 68/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hảo D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger