TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 16/4/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Xuân Thường, bà Hồ Thị Thanh Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa Lý- Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 06/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn H; sinh năm 1977, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn K (đã chết) và bà Đậu Thị T; Có vợ Phạm Thị H1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 01/3/2023, bị cáo Vũ Văn H bị TAND huyện Diễn Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Ngày 26/5/2023, TAND huyện Diễn Châu quyết định truy tìm người đã có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn (bị cáo chưa chấp hành).
Nhân thân:
- Ngày 06/01/2017, bị TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2017.
- Ngày 17/3/2020, bị TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/5/2021.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Hương L, Luật sư Công ty L1, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
Người chứng kiến: Bà Hồ Thị H2, sinh năm 1955. Địa chỉ: thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 21/10/2023, tại quán nước ven đường Q, thuộc thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy (PC04) Công an tỉnh N bắt quả tang Vũ Văn H (sinh năm 1977, trú tại thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; thu giữ 02 gói ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 36,07 gam và 01 (một) điện thoại di động.
Quá trình điều tra hành vi phạm tội của Vũ Văn H thể hiện: Trong thời gian chấp hành án tại trại tạm giam số 6 – Bộ C (từ năm 2020 đến năm 2021), H có quen biết một người bạn tù tên S ở huyện C (không rõ năm sinh, lai lịch, địa chỉ và tội danh cụ thể). Sau khi ra trại, đến tháng 10/2022 H gặp lại S tại bệnh viên S Nghệ An, tại đây S nói với H nếu tìm được khách mua ma túy cho S thì S cho H ma túy H3 để sử dụng, H đồng ý. Sáng ngày 20/10/2023, S gọi điện cho H hỏi có khách không, H nói “chưa có, khi nào có sẽ báo lại”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, có một người đàn ông không quen biết (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện cho H hỏi mua 02 (hai) túi ma túy hồng phiến, H đồng ý và nói khách chờ liên lạc lại sau. Sau đó, H gọi cho S, S nói bán 02 gói hồng phiến giá 16.000.000 đồng. H báo lại cho khách giá cả như trên và hai bên thống nhất mua bán bằng hình thức chuyển khoản tiền. Do không có số tài khoản Ngân hàng nên H nhờ con trai của H là Vũ Văn H4 (sinh năm 2008, trú tại thôn X, D, D, Nghệ An) cung cấp số tài khoản 0982834711 thuộc ngân hàng M1 của H4 rồi H đọc lại cho người khách để người này chuyển số tiền trên cho H. Sau đó có tài khoản số 3988656789 mang tên Đinh Văn S1 chuyển đến số tài khoản của Vũ Văn H4 số tiền 16.000.000 đồng. Khi Vũ Văn H4 nhận được tiền, H nói H4 rút số tiền đó đưa về cho H. H4 đi đến quán tạp hóa của bà Phan Thị M (sinh năm 1967, trú tại thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) để chuyển khoản và lấy số tiền mặt 15.950.000 đồng (trừ đi 50.000 đồng tiền phí) về giao cho H (H4 không biết số tiền 16.000.000 đồng Vũ Văn H nhờ rút là tiền mua bán ma tuý). Sau khi nhận được tiền, H gọi điện báo cho S và hẹn tối cùng ngày gặp nhau tại Cầu B thuộc địa phận xã D, huyện D, Nghệ An. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, H gặp và giao cho S số tiền 15.950.000 đồng. S đưa cho H một gói nilong màu vàng, bên trong chứa hai gói ma túy hồng phiến và gói ma túy Heroine được bọc trong giấy (số H3 là S cho H). H mang số ma túy hồng phiến trên về nhà cất giấu tại khu vực chuồng bò, còn số ma túy Heroine H5 đã sử dụng hết, sau đó H5 gọi điện cho khách báo đã có ma túy, người này hẹn sáng ngày 21/10/2023 sẽ đến lấy ma túy. Đến khoảng 10 giờ ngày 21/10/2023, người khách gọi điện hẹn H5 đến quán nước bà H2 trên quốc lộ G (thuộc thôn G, xã D, huyện D) để giao nhận ma túy. Lúc này H5 lấy số ma túy hồng phiến cất giấu tại khu vực chuồng bò bỏ trong quần lót của mình đang mặc rồi đi bộ đến quán nước bà Hồ Thị H2, thuộc thôn G, xã D, huyện D để giao cho khách. Khi đang ngồi chờ khách đến lấy ma túy thì H5 bị lực lượng Công an kiểm tra, H5 đã tự nguyện lấy gói ma túy hồng phiến ra giao nộp cho lực lượng chức năng.
Kết luận giám định số 1008/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 24/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “02 (hai) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Vũ Văn H gửi đến giám định đều là ma túy: loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng (02 gói) thu giữ của Vũ Văn H có tổng khối lượng là 36,07 g (ba mươi sáu phẩy không bảy gam)”.
Vật chứng thu giữ gồm: 36,07 gam ma túy (Methamphetamine), đã lấy 5,37 gam để giám định, còn lại 30,7 gam; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Văn H. Vật chứng hiện bảo quản tại kho vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Tại Bản Cáo trạng số 60/CT-VKS-P1 ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi gửi đi giám định; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của Vũ Văn H; Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn H không tranh luận về tội danh của bị cáo. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có chú ruột là liệt sỹ; áp dụng điểm s khoản 1, 2 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, không tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình chăm mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:
[1] Về các quyết định và hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tỉnh Nghệ An, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn H hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 21/10/2023, tại quán nước của bà Hồ Thị H2, thuộc thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, bị cáo Vũ Văn H đang có hành vi cất giấu trái phép 36,07 gam ma túy (Methamphetamine) để bán cho người khác với giá 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy (PC04) Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo đã có 01 tiền sự bị TAND huyện Diễn Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bỏ trốn chưa chấp hành và có nhân thân xấu đã 2 lần bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà để có được ma túy sử dụng bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó cần xử phạt bị cáo nghiêm minh nhằm trừng trị và cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có chú ruột Vũ Văn P là liệt sỹ, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án cao nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm và thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước đối với người phạm tội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo Vũ Văn H là hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- Ma túy là vật Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi lấy đi giám định.
- Các vỏ bao niêm phong cũ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo Vũ Văn H là công cụ phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với người đàn ông tên S, Vũ Văn H khai là người bán ma túy cho H (cùng chấp hành án tại trại tạm giam số 6 – Bộ C với H từ năm 2020 đến năm 2021). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Trại tạm giam số 6- Bộ C nhưng không có người nào tên S, nơi đăng ký thường trú ở huyện C, tỉnh Nghệ An như lời khai của H nên không có căn cứ làm rõ, xử lý trong vụ án này.
[8] Đối với người đàn ông ở thành phố V (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0977.028.xxx đặt mua ma tuý. Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại trên, kết quả đăng ký chủ thuê bao Đặng Thị H6, sinh năm 1982, trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đặng Thị H6 khai từ trước đến nay không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên, H6 không biết việc mua bán trái phép chất ma túy của Vũ Văn H. Do đó, không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
[9] Đối với Vũ Văn H4 (con trai H) là người dùng tài khoản của mình để rút tiền cho H. Qua xác minh, H4 không biết việc H mua ma tuý nên không có căn cứ để xử lý đối với H4.
[10] Đối với Đinh Văn S1 (Sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi) đăng ký số tài khoản của ngân hàng đã chuyển tiền mua ma túy cho Vũ Văn H4 (con trai của Vũ Văn H) quá trình xác minh thể hiện Đinh Văn S1 không đăng ký và sử dụng số tài khoản trên, không quen biết và không thực hiện việc mua bán ma túy với Vũ Văn H. Nên không có căn cứ để xử lý.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/10/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Vũ Văn H.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 30,7gam ma túy (M) và vỏ bao bì niêm phong cũ.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn H.
Đặc điểm các vật chứng nêu trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/02/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
6
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H - mua bán trái phép chất ma túy
