|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HS-PT |
Ngày: 12/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Đậu Thị Quy;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Khánh T, Trần Văn H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:16/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Trần Khánh T, sinh ngày: 23/3/1984 tại tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT: Khu phố F, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; Hiện ở: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1957; Có vợ: Kso H, sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/12/2015 bị UBND tỉnh P xử phạt vi phạm hành chính 75.000.000 đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép; Ngày 30/12/2015 bị Toà án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên áp dụng khoản 1, Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 30/12/2016; Ngày 12/5/2016 bị Công an thị trấn H xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo; Ngày 10/10/2016 bị Hạt kiểm lâm huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép; Ngày 07/5/2019 bị Toà án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên áp dụng điểm b khoản khoản 1 Điều 175 BLHS năm 1999 xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, chấp hành xong ngày 02/11/2019. Bị cáo tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Phú Yên từ ngày 27/6/2023. Có mặt tại phiên toà.
- Trần Văn H, sinh ngày: 10/9/1955; tại tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT: Khu phố F, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn P (chết) và bà Nguyễn Thị P1 (chết); Có Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1957 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến ngày 23/11/2023. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H: ông Ngô Minh T1 – Luật sư thuộc Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: UBND xã S do ông Phạm Hữu T2 – Phó chủ tịch UBND xã S làm đại diện theo uỷ quyền. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ban N1 do ông Triệu Xuân L, sinh năm 1964 - thôn trưởng thôn H làm đại diện theo pháp luật. Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ban N2 do bà Ksor Hờ V1, sinh năm 1990 – thôn trưởng thôn E làm đại diện theo pháp luật. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Lmo Y B, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Y M (Kso Y), sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Trần Đình H1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Kso Y C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Buôn Đ, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ksor Y H2, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Buôn L, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; là địa chính xã S; Có mặt.
- Chu Viết Tuấn V2, sinh năm 1995.Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; là Công án xã S; Có mặt.
- La Lan D, sinh năm 1981. Địa chỉ: Buôn L, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Kpắ Y B1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- La O D1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Trần Văn Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Trần Văn T3, 1992. Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Ka Siu H3, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; công tác tại lâm nghiệp xã S; Có mặt.
- Nguyễn T4, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 07/8/2021 đến ngày 25/5/2022 trên địa bàn huyện S, Trần Khánh T, Trần Văn H đã có hành vi hủy hoại rừng, nội dung cụ thể:
Ngày 07/8/2021, Công an xã S phát hiện Trần Khánh T thuê LMo Y, Kso Y, Kso Y và 01 người nữa (không xác định họ, tên, địa chỉ) khai thác cây keo trên tổng diện tích 40.908,1 m² nên đã lập biên vi phạm. Quá trình điều tra xác định: T thuê nhân công đến khu vực rừng trồng cây keo tại khoảnh 1, 2 tiểu khu C thuộc xã S, huyện S của Ủy ban nhân dân xã S cắt hạ cây keo, Y B điều khiển xe máy cày của T chở cây keo ra khỏi rừng đến tập kết trước trường Tiểu học, trung học cơ sở xã S, sau đó T cân và bán cho đối tượng tên T5 (không xác định lai lịch), T đem tiền trả tiền công và tiêu xài cá nhân. Đến đầu tháng 8/2021, T chuẩn bị máy cưa, xe máy cày và thuê K So Y Hồng, K So H, La O H, K So H, Y S cắt hạ cây keo, K So Y H4 điều khiển xe máy cày của T và Trần Đình H1 điều khiển xe máy cày của H1 chở cây keo ra khỏi rừng đến điểm tập kết trước trường Tiểu học, trung học cơ sở xã S. Sau đó T thuê xe Bùi Văn N chở cây keo đến cơ sở thu mua cây keo ở buôn Q, xã Đ, huyện S bán, T nộp cho Công an xã S 1.030.000 đồng, T6 còn lại T trả tiền công và tiêu xài cá nhân.
Ngày 27/4/2022, Công an xã S phát hiện Trần Văn H đang thuê người vào cắt để khai thác keo trên diện tích 37.641m² đất rừng đã bàn giao cho Ban Nhân dân thôn Ea Ngao bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và chiếm đất để trồng keo nên lập biên bản vi phạm. Quá trình điều tra xác định,Trần Văn H và Trần Khánh T đã thuê Y M1 (tên thường gọi là Kso Y H5), Kso H, Y V3, Kso H, Y V4, Y T7 cùng trú tại thôn E, xã S, Lmo Y, Ksor Y, Niê Y T8, Kso Y, Kso Y, K pắ Y S1, Kpắ Y cùng trú tại Buôn Đ, xã E huyện S và một số người nữa (không xác định họ, tên, địa chỉ) dùng 02 máy cưa, động cơ xăng của T, H giao để cắt cây keo trên diện tích 37.641m² đất rừng do Ủy ban nhân dân xã S trồng, sau đó thuê Trần Đình H1 dùng máy cày có gắn rơ móoc của H1 vô rừng để chở cây keo đã được cắt thành từng đoạn về tập kết tại sân nhà H1 rồi thuê Bùi Văn N, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã S dùng xe ô tô tải biển kiểm soát 78C- 23.94 của N chở cây keo đi bán tại nhà máy K ở Buôn Q, xã Đ, huyện S bán, N cầm tiền và phiếu cân về giao cho T, T thanh toán tiền xe cho H1 và N, còn lại T giao cho H.
Kết luận giám định tư pháp số 1629/KLGĐ-CCKL và số 1630/KLGĐ-CCKL ngày 27/12/2022 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh P kết luận: Diện tích 40.908,1m² và diện tích 37.641m² tại khoảnh 1, 2 tiểu khu C thuộc xã S, huyện S được quy hoạch là rừng sản xuất; cây Keo lai thuộc gỗ nhóm V.
Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện S kết luận: Giá trị thiệt hại, giá trị bồi thường với rừng sản xuất là rừng trồng với diện tích 40.908m²; năm trồng tháng 11/2016 (rừng trồng năm thứ 5); mật độ 900 cây/ha; loại cây keo giá trị: 151.229.579 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện S kết luận: Giá trị thiệt hại, giá trị bồi thường với rừng sản xuất là rừng trồng với diện tích 37.641m²; năm trồng tháng 11/2016 (rừng trồng năm thứ 6); mật độ 1.533cây/ha; loài cây keo trị giá: 176.681.257 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Trần Khánh T và Trần Văn H phạm tội: “Huỷ hoại rừng”; Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 243; điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; Phạt: T (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27 tháng 6 năm 2023; Trần Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến 23/11/2023. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 243 BLHS phạt mỗi bị cáo số tiền 30.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/6/2024 và 29/7/2024, bị cáo Trần Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại toàn bộ nội dung vụ án. Ngày 13/6/2024, bị cáo Trần Khánh T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo H và bị cáo T đều đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại, bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Các bị cáo thừa nhận hành vi khai thác rừng tại khoảnh 1, 2 tiểu khu C thuộc xã S, huyện S nhưng bị cáo H cho rằng số keo bị cáo khai thác là do bị cáo nhận sang nhượng hợp pháp từ các hộ dân chứ không phải số keo do Ban N2 quản lý. Bị cáo T không nhận việc bị cáo gọi công, nhận tiền và trả tiền công giúp bị cáo H khai thác 37.641m² rừng keo tại khoảnh 1, 2 tiểu khu C. Diện tích rừng các bị cáo khai thác không đúng như diện tích 78.549,1m2 biên bản khám nhiệm hiện trường ghi nhận. Các bị cáo không đồng ý với bản kết luận giám định số 1629 và kết luận số 1630 của Chi cục kiểm lâm tỉnh P đã kết luận: diện tích cây keo bị cắt là 40.908,1m² và 37,641,0m² tại khoảnh 1, 2 tiểu khu C thuộc xã S, huyện S và kết luận định giá tài sản số 17, 18 của Hội đồng định giá tài sản huyện S.
[2] Mặc dù các bị cáo không thừa nhận việc thuê nhân công cắt cây keo trên diện tích 78.549,1m2 nhưng lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ksor Y H6, Ksor Hờ L1 khai: vào khoảng tháng 8/2021 và tháng 4/2022 ông Trần Khánh T là con trai ông H có đến nhà tôi thuê vợ chồng tôi vô tiểu khu C xã S để cắt keo...(BL 229-230; BL 667-674), L4 khai: khoảng đầu tháng 4/2021, Trần Khánh T có đến nhà tôi thuê đi cắt keo cho T... (BL 211-213) và khoảng tháng 4-5/2022 H gọi điện thoại thuê tôi đi cắt cây keo cho H (BL 681-684); Trần Đình H1 khai: khoảng tháng 8/2021 và cuối tháng 4/2022 ông T có thuê H1 chở cây keo tại khu vực Suối Ma Đ1 thuộc tiểu khu 314 xã S và nhiều lời khai của những người khác đều thể hiện các bị cáo T, H thuê để cắt, chở cây keo và nhận tiền công từ các bị cáo.
[3] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, căn cứ vào biên bản thoả thuận ngày 05/5/2022 và ngày 25/5/2022, bị cáo H thừa nhận đã thuê nhân công cắt keo trên diện tích do Ban N2 quản lý, bị cáo H thoả thuận sẽ chở keo đi bán và mang tiền về giao cho Công an xã S quản lý.
[4] Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/10/2022 và các biên bản ghi nhận hiện trường ngày 27/4/2022 và ngày 25/5/2022 xác định diện tích keo do các bị cáo thuê nhân công cắt chở đi bán thể hiện:
[4.1] Số keo bị cắt trên diện tích 40.908,1m², đường kính gốc trung bình là 07 đến 18cm, mật độ cây là 900 cây/ha. Diện tích đất trên được “Quy hoạch rừng sản xuất – cây keo thuộc gỗ nhóm V” do Ban N1 trồng và quản lý. Bị cáo T thuê người cắt cây keo làm hai đợt: đợt 1 vào khoảng tháng 3-4/2021, bị cáo T thuê L2 Y Bình và một số người khác cắt cây keo. Đợt 2 khoảng đầu tháng 8/2021, T thuê Kso Y H5 và đưa máy cưa lốc để cắt cây keo.
[4.2] Số keo bị cắt trên diện tích 37.641m², đường kính gốc từ 06 đến 20cm, mật độ là 1533 cây/ha. Diện tích đất trên được “Quy hoạch rừng sản xuất – cây keo thuộc gỗ nhóm V” do Ban N2 trồng và quản lý. Bị cáo T và H thuê nhân công cắt cây keo 3 đợt. Đợt 1: khoảng tháng 4/2022, H bảo Toàn thuê Kso Y Hồng cắt cây keo; đợt 2: bị cáo H thuê Lmo Y và một số người khác vào cắt keo và thuê Trần Hình H7 dùng máy cày có gắn rơ mooc chở cây keo; đợt 3: cuối thành 5/2022, H thuê Ksor Y C1 và nhiều người khác vào cắt cây và thuê H7 chở cây keo về tập kết tại sân nhà H7, sau đó T thuê N chở cây keo đến nhà máy thu mua cây keo ở Buôn Q, xã Đ, huyện S.
[5] Các bản kết luận giám định số 1629/KSGĐ-CCKL và kết luận số 1630/KLGĐ-CCKL của Chi cục kiểm lâm tỉnh P đã kết luận: diện tích cây keo bị cắt là 40.908,1 m² và 37,641.0 m² tại khảnh 1, 2 tiều khu C thuộc xã S, huyện S và các bản kết luận định giá số 17, 18/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản huyện S. Các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương pháp đúng quy định của pháp luật.
[6] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, đủ cơ sở kết luận: Năm 2021, 2022 Trần Khánh T cố ý khai thác trái phép 40.908,1m²; Năm 2022 T cùng với Trần Văn H khai thác 37.641m² rừng keo tại khoảnh 1, 2 tiểu khu C thuộc xã S, đều là loại rừng sản xuất trồng cây Keo lai thuộc gỗ nhóm V, do UBND xã S hợp đồng dân thôn E và thôn H trồng, quản lý, chăm sóc theo dự án phục hồi rừng năm 2016 của UBND huyện S, với tổng giá trị thiệt hại là 327.910.836 đồng để vụ lợi cá nhân nên cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử các bị cáo Trần Khánh T, Trần Văn H về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 243 BLHS (đối với bị cáo T); điểm đ khoản 2 Điều 243 BLHS (đối với bị cáo H) là có căn cứ, đúng tội. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và ý kiến đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
[7] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, được Nhà nước bảo vệ nên cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo mức án phù hợp. Do đó, chấp nhận ý kiên đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện nguyên đơn dân sự, Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với diện tích rừng bị thiệt hại là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên bản án sơ thẩm buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự là phù hợp, cụ thể:
Buộc bị cáo Trần Khánh T bồi thường thiệt hại đối với diện tích 40.908m² rừng sản xuất và rừng trồng bị thiệt hại giá trị 151.229.579 đồng cho nguyên đơn dân sự là UBND xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Bị cáo đã bồi thường 41.030.000 đồng, nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 110.199.579 đồng.
Buộc các bị cáo Trần Khánh T, Trần Văn H phải liên đới bồi thường thiệt hại đối với diện tích rừng 37.641 m2 rừng sản xuất là rừng trồng bị thiệt hại trị giá 176.681.257 đồng cho nguyên đơn dân sự là UBND xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên, nghĩa vụ bồi thường của mỗi bị cáo là 88.340.628,5 đồng. Đại diện gia đình các bị cáo (ông Trần Ngọc T9) đã tự nguyện giao nộp số tiền 176.700.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho các bị cáo, số tiền còn dư 18.743 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) cưa máy (cưa lốc) đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu SHARP, không có phần lưỡi cưa; 01 Một) cưa lốc đã qua sử dụng màu xanh đen, nhãn hiệu SHARP, phần lưỡi cưa dài 42cm, rộng 9,5cm; Phần thân máy dài 41cm, cao 27,5cm, rộng 17cm; 01 (Một) xe mô tô đã qua sử dụng, biển kiểm soát 78M1- 131.38 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô); 01 (Một) điện thoại màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng bị vỡ màn hình; 01 (Một) điện thoại di động (loại bàn phím cơ), màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/2/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
[10] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: các bị cáo Trần Khánh T và Trần Văn H phạm tội “Huỷ hoại rừng”;
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 243; điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt:
- Bị cáo Trần Khánh T - 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/6/2023.
- Bị cáo Trần Văn H - 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến 23/11/2023.
Phạt bổ sung Trần Khánh T, Trần Văn H mỗi bị cáo số tiền 30.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 587; Điều 589 BLDS;
2.1. Buộc bị cáo Trần Khánh T phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên số tiền 151.229.579 đồng. Bị cáo đã bồi thường 41.030.000 đồng (do Trương Bá D2 nộp vào tài khoản số [...] của Công an huyện S mở tại Kho bạc Nhà nước Sông Hinh ngày 17/7/2023) nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 110.199.579 đồng.
2.2. Buộc các bị cáo Trần Khánh T, Trần Văn H phải liên đới bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên số tiền 176.681.257 đồng, nghĩa vụ bồi thường của mỗi bị cáo là 88.340.628,5 đồng. Đại diện gia đình các bị cáo (ông Trần Ngọc T9) đã tự nguyện giao nộp số tiền 176.700.000 đồng để bồi thường thiệt hại thay cho các bị cáo (do Trương Bá D2 nộp vào tài khoản số [...] của Công an huyện S mở tại Kho bạc Nhà nước Sông Hinh ngày 17/7/2023), còn thừa số tiền 18.743 đồng.
2.3. Trả cho ông Trần Ngọc T9 số tiền còn thừa 18.743 đồng.
2.4. Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên được nhận số tiền 217.711.257 đồng do bị cáo T và gia đình các bị cáo H, T nộp bồi thường (do Trương Bá D2 nộp vào tài khoản số [...] của Công an huyện S mở tại Kho bạc Nhà nước Sông Hinh ngày 17/7/2023).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS;
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) cưa máy (cưa lốc) đã qua sử dụng, màu xanh, nhãn hiệu SHARP, không có phần lưỡi cưa; 01 Một) cưa lốc đã qua sử dụng màu xanh đen, nhãn hiệu SHARP, phần lưỡi cưa dài 42cm, rộng 9,5cm; Phần thân máy dài 41cm, cao 27,5cm, rộng 17cm; 01 (Một) xe mô tô đã qua sử dụng, biển kiểm soát 78M1- 131.38 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô); 01 (Một) điện thoại màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng bị vỡ màn hình; 01 (Một) điện thoại di động (loại bàn phím cơ), màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/2/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Khánh T, Trần Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Trần Khánh T phải chịu 5.510.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 68/2024/HS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về huỷ hoại rừng
- Số bản án: 68/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Khánh T và đp
