Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI – TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thành và ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 03 tháng 12 năm 1992 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị Hải Y có vợ là Trần Thị C và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973; Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (chết ngày 08/4/2024).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị H1: Ông Nguyễn Chân H2 (bố đẻ); địa chỉ: Thôn B (V), xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; anh Bùi Quang T (chồng); cháu Bùi Thúy H3 (con); cháu Bùi Mạnh T1, sinh năm 2002 (con); cùng địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Ông H2, cháu H3, cháu T1 ủy quyền cho anh Bùi Quang T, sinh năm 1970 cư trú tại tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái tham gia tố tụng; anh T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị P, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
  2. Chị Phạm Mỹ H4, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Y1; vắng mặt.
  3. Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 08 tháng 4 năm 2024, Đỗ Văn M không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định do ngày 19 tháng 9 năm 2023, M bị Phòng giao thông Công an tỉnh Y tước giấy phép lái xe Hạng A1, số AT 624779, nơi cấp Sở giao thông tỉnh Yên Bái, thời hạn 17 tháng từ ngày 19 tháng 9 năm 2023 đến ngày 19 tháng 2 năm 2025, nhưng M đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AirBladec biển số 21B1- 14788 đi từ thôn T, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đến nhà sách T3 trên đường Đ thuộc phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái để mua đồ dùng cá nhân. Sau khi mua xong, M điều khiển xe mô tô trên đi về theo hướng ngược lại. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi điều khiển xe đến khu vực gần lối mở ra cho phép các phương tiện quay đầu trên đường T thuộc thôn T, xã T, thành phố Y, thấy trong người mệt buồn ngủ nên M nhắm mắt lại khoảng 5 giây nhưng vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thẳng với tốc độ 40 – 50km/h. Sau đó, M mở mắt ra thì thấy một chiếc xe ô tô tải đi ở phía bên trái, M điều khiển xe mô tô vượt lên phía trước và lại nhắm mắt khoảng 8 đến 10 giây thì xe mô tô do M điều khiển đã đâm vào chị Nguyễn Thị H1 đang đi bộ cùng chị Nguyễn Thị P1 dưới lòng đường ở phía bên phải theo chiều di chuyển của M dẫn đến tai nạn xảy ra. Hậu quả chị H1 bị thương tích được đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Y nhưng tử vong. M bị thương phải điều trị tại bệnh viện, xe môtô Honda nhãn hiệu AirBlade biển số 21B1- 14788 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường hồi 21 giờ ngày 08 tháng 4 năm 2024 xác định:

  1. Vụ tai nạn giao thông xảy ra là đoạn đường thẳng bên phần đường bên phải theo chiều hướng đi từ cầu T đi đường A có lối mở tại dải phân cách cố định. Tổ chức giao thông hai chiều có dải phân cách cố định phân chia hai chiều xe chạy. Hệ thống biển báo hiệu đường bộ: Biển báo hiệu chỗ quay xe i409 trên hành lang bên đường bên phải theo chiều đi từ cầu T, biển báo hiệu cấm đi ngược chiều P 102 trên dải phân cách cố định. Chiều rộng mặt đường, chiều đi từ cầu T đi đường  là: 10.20m, mặt đường dải nhựa bằng phẳng, khô ráo.
  2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết; phương tiện và dấu vết được đánh số thứ tự theo dẫy số tự nhiên từ 01 đến 05; 01, 03, 05 là vết máu, 02 là vết cày trượt, 04 là xe mô tô biển kiểm soát 21 B1 – 14788.
  3. Xác định điểm mốc một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy mép đường bên phải theo chiều hướng đi từ cầu T đi đường  làm mép chuẩn. Lấy cột biển báo chỗ quay xe i 409 trên hành lang đường bên phải theo chiều đi từ cầu T lên đường  làm mép chuẩn. Lấy cột biển báo chỗ quay xe i 409 trên hành lang đường bên phải theo chiều đi từ cầu T đến đường  làm mốc cố định. Các dấu vết phương tiện được đo vuông góc với mép chuẩn.
  4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: (01) là dấu vết máu có màu đỏ trên mặt đường có kích thước là 2.25m x 0,55m, tâm của dấu vết cách mép chuẩn là 2.50m; (02) là dấu vết cày trượt được đánh dấu hai điểm là 2A và 2B trên mặt đường tại điểm 2A dấu vết rộng, nhỏ dần về phía điểm 2B điểm 2A kết thúc tại đầu tay phanh bên phải xe mô tô biển kiểm soát 21 B1 - 14788, điểm 2A là 1.79m, dấu vết có kích thước dài 6.16m; (03) là dấu vết máu có màu đỏ trên mặt rãnh thu hồi nước và mặt bó vỉa hành lang đường bên phải theo chiều hướng đi từ cầu T đi đường Â, dấu vết có kích thước là 1.12m x 0.40m. T2 của dấu vết cách mép chuẩn là 0.38m. (04) là xe mô tô Biển kiểm soát 21B1 - 14788 đổ nghiêng sang bên phải trên mặt đường, đầu xe quay hướng mép đường bên trái theo chiều hướng đi từ cầu T đi đường Â, đuôi xe quay hướng mép đường bên phải theo chiều hướng đi từ cầu T đi đường Â. Trục bánh xe trước xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788 cách mép chuẩn là 1.96m, trục bánh xe sau xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788 cách mép chuẩn là 0.74m (05) là dấu vết máu có màu đỏ trên mặt đường có kích thước là 0,54m x 0.22m, tâm của dấu vết cách mép chuẩn là 0.33m. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã đo các dấu vết và phương tiện với nhau có số đo cụ thể như sau: T2 dấu vết máu (dấu vết số 01) cách mốc cố định là 11.16m, tâm dấu vết máu (dấu vết số 01) cách điểm 2A là 3,83m, điểm 2A cách tâm dấu vết máu (dấu vết số 03) là 2.56m, tâm dấu vết máu dấu vết số 03 cách trục bánh xe sau xe mô tô biển kiểm soát 21B1-14788 là 3.95m, trục bánh xe sau xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788 cách tâm dấu vết máu (dấu vết số 05) là 1.36m. Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật được thu: xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788.

Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 22 giờ 35 phút giờ ngày 08 tháng 4 năm 2024 xác định: Dấu vết trên phương tiện đầu tay phanh phía trước bên phải để lại dấu vết mài trượt kim loại bề mặt nham nhở; ốp nhựa đầu xe phía bên phải để lại dấu vết mài trượt nham nhở làm bong tróc lớp sơn phủ bề mặt dấu vết có kích thước là 12.0cm x 0.5cm, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bung rời khỏi cốt bắt giữ, hộp yếm chắn gió phía bên phải rách vỡ, bung khỏi vị trí bắt giữ ban đầu, ốp nhựa hộp yếm chắn gió phía bên phải rách vỡ, bung khỏi vị trí ban đầu, ốp nhựa tranh trí đầu xe vỡ bung rời khỏi xe. Mặt cạnh ngoài gác để chân phía trước bên phải để lại dấu vết mài trượt bề mặt nham nhở dấu vết có chiều hướng từ trước về sau; Kỹ thuật an toàn phương tiện: Không ghi nhận kỹ thuật.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 243/KLGĐTT-PC09 ngày 07/5/2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị H1: Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu não. Cơ chế hình thành thương tích: Vết rách da ở vùng đỉnh chẩm phải là do va đập và vật tày có cạnh gây nên. Một số vết xây sát do bầm tím tại vùng sau lưng phía dưới, mông, tay phải, hai chân là do va đập với vật tày gây nên. Thời gian tử vong: Thời gian từ khi chị Nguyễn Thị H1 chết tử vong tính đến thời điểm khám nghiệm và giám định trong khoảng 03 giờ đồng hồ.

Tại kết luận giám định tổn thương trên cơ thế người sống số 66/ KLTTCT - TTPY ngày 10/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Y kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/219/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y2 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám địn pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn M tại thời điểm giám định là: 13% (mười ba phần trăm).

Tại kết luận giám định tài sản số 18/KL -HĐGĐTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788, nhãn hiệu Honda, số loại: Air Blade, màu sơn đỏ - đen, số máy JF27E0287156, số khung: RLHJF 1800 AY 246434, xe đã qua sử dụng có tổng giá trị tài sản do tai nạn giao thông ngày 08/4/2024 là 2.950.000 đồng (Hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô Honda nhãn hiệu Air Blade, biển kiểm soát 21 B1-14788 xe đã qua sử dụng.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra Đỗ Văn M đã bồi thường thiệt hại cho gia đình chị Nguyễn Thị H1 số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Sau khi nhận số tiền trên anh Bùi Quang T là người đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đỗ Văn M.

Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-TP ngày 24 -7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái đã truy tố Đỗ Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 5 (năm) năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của đại diện bị hại, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Đỗ Văn M chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788, nhãn hiệu Honda, loại Air Blade.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm Bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn và nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã đầy đủ, khách quan, hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Đỗ Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 08 tháng 4 năm 2024, Đỗ Văn M không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định do ngày 19 tháng 9 năm 2023 M bị Phòng giao thông Công an tỉnh Y tước giấy phép lái xe Hạng A1 thời hạn 17 tháng nhưng M đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AirBlade biển số 21B1- 14788. Khi đến khu vực gần lối mở cho phép các phương tiện quay đầu trên đường T thuộc thôn T, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, M thấy trong người mệt nên nhắm mắt lại nhưng vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô duy trì tốc độ khoảng 40 – 50 km/h, do thiếu quan sát M không nhìn thấy chị Nguyễn Thị H1 đang đi bộ dưới lòng đường phía bên phải theo chiều di chuyển của M, M không giảm tốc độ xe đến mức an toàn cần thiết (Vi phạm điểm e khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ và khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) M đã điều khiển xe mô tô đâm vào chị Nguyễn Thị H1. Hậu quả chị Nguyễn Thị H1 tử vong. Hành vi nêu trên của Đỗ Văn M đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Đỗ Văn M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất mát lớn cho gia đình người bị hại. Vì vậy việc đưa bị cáo xử lý trước pháp luật là cần thiết.

[4] Về nhân thân bị cáo Đỗ Văn M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi vô ý, bị cáo hiểu rõ các quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ, nhận thức được việc điều khiển xe mô tô khi tham gia giao thông phải chấp hành đúng luật giao thông đường bộ nhưng do chấp hành không đúng nên bị cáo đã gây tai nạn. Do đó, cần có hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục bị cáo nói riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn đề nghị xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Ngày 19 tháng 9 năm 2023 bị cáo M bị xử phạt hành chính tước quyền sử dụng giấy phép lái xe hạng A1 số AT 624779 do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp thời hạn 17 tháng, quyết định này là xử phạt hành chính thông thường, không bị coi là tiền sự; trong thời gian bị tước giấy phép lái xe bị cáo đã có hành vi điều khiển xe mô tô gây tai nạn hậu quả làm chị Nguyễn Thị H1 tử vong nên bị cáo bị truy tố về hành vi điều khiển xe mô tô mà không có giấy phép lái xe theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội với lỗi vô ý, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của đại diện bị hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục bị cáo cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đỗ Văn M đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thị H1 số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng), Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị H1 là anh Bùi Quang T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788, nhãn hiệu Honda, loại Air Blade là tài sản hợp pháp của bị cáo Đỗ Văn M và vợ là chị Trần Thị C nên trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Bùi Quang T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm .

    Trong thời gian thử thách giao bị cáo Đỗ Văn M cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục.

    Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp Đỗ Văn M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn M: 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21 B1-14788 có đặc điểm theo (Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên bái và Công an thành phố Y ngày 25 tháng 7 năm 2024).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Đỗ Văn M phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Quang T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Yên Bái;

- VKSND tỉnh Yên Bái.

- VKSND TP Yên Bái;

- Chi cục THADS TP Yên Bái.

- UBND xã Tân Thinh, tp Yên Bái, T. Yên Bái.

- Sở tư pháp tỉnh yên Bái.

- Bị cáo; bị hại

- Đại diện bị hại (Tiến).

- Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Thị Kim Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao giao thông đường bộ”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger