|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Hải và ông Nguyễn Huy Cường.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Chau Sóc T, sinh ngày 02-02-2003 tại T, An Giang; nơi cư trú và chỗ ở: tổ 1, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Chau T1 và bà Neàng Đa Q; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 13-3-2024 đến ngày 21-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T, có mặt.
- Chau Ra, sinh ngày 17-5-1997 tại T, An Giang; nơi cư trú và chỗ ở: tổ A, khóm C, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Chau M và bà Neàng R; có vợ là Neàng N và có 01 người con sinh năm 2024; anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là người thứ năm; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 13-3-2024 đến ngày 21-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Bà Neàng Đa Q, sinh năm 1982, nơi cư trú: tổ I, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
- - Ông Chau T2, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
Người làm chứng:
Nguyễn Phú Q1, sinh năm 1990; (vắng mặt).
Người phiên dịch cho bị cáo:
Ông Chau Xi N1 - Cộng tác viên phiên dịch tiếng Khmer; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 12-3-2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thị xã T phối hợp cùng với Công an xã T kiểm tra nhà của Chau Sóc T tại tổ 1, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang phát hiện bên trong túi quần bên trái phía trước của T đang mặc có 01 bọc nilon trong suốt có rảnh khóa viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chau Sóc T và Chau R1 và tạm giữ tang vật có liên quan.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ ngày 12-3-2024, C Ra điều khiển xe mô tô biển số 67F1-332.83 đến nhà Chau S thuộc tổ I, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang để chơi; sau đó, R1 và T rủ nhau mua ma túy cùng sử dụng. Chau Ra điều khiển xe mô tô biển số 67F1-332.83 chở T đến ngã tư V chạy xuống đường Núi Voi một đoạn khoảng 02km thì dừng xe trên đường phía trước nhà của người bán ma túy tên B (không rõ họ, địa chỉ cụ thể), T bước xuống xe, do T không có tiền nên R1 đưa cho T 300.000 đồng để mua ma túy, T đi vào đứng trước cửa nhà B thì có một người trong nhà (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đưa tay ra ngoài đưa cho T bọc nilon có chứa ma túy. Thơm cất giấu bọc ma túy vào trong túi quần bên trái phía trước của T. Sau khi mua ma túy xong, R1 chở T về nhà của T, cả hai chưa kịp sử dụng thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện trên người T có cất giấu ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chau Sóc T và Chau R1.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67F1-332.83, tạm giữ của Chau Ra; 01 ống nỏ thủy tinh, tạm giữ của C1; 01 phong bì được niêm phong (vụ số 352/KL-KTHS (MT-GT) ngày 19-3-2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Quyết T3 bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,2414 gam.
Kết luận giám định số 352/KL-KTHS (MT -GT) ngày 19-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh A kết luận: “01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền xanh chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M) là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2716 gam".
Ngày 21-3-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T khởi tố Chau Sóc T, C để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSTB ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố Chau Sóc T, Chau R1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Neàng Đa Q, Chau T2 trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng nêu trên.
Người làm chứng Nguyễn Phú Q1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung, các bị cáo nghiện ma túy, làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang các bị cáo còn lại sau giám định và 01 ống nỏ thủy tinh thu giữ của C1 là vật cấm lưu hành, vật dùng để sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 67F1-332.83 đề nghị giao trả cho cho bị cáo Chau R1 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì; trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng Nguyễn Phú Q1 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 12-3-2024, tại nhà của bị cáo Chau Sóc T thuộc tổ 1, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 đã có hành vi cất giấu 01 bọc nilon trong suốt có rảnh khóa viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2716 gam với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (tội phạm nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích cất giấu để sử dụng. Các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Trước khi phạm tội, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Các bị cáo làm thuê, điều kiện hoàn cảnh kinh tế, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang các bị cáo còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 ống nỏ thủy tinh là vật dùng để sử dụng ma túy và không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy và 01 ống nỏ thủy tinh theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Chau R1 là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67F1-332.83. Do xe mô tô biển số 67F1-332.83 không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội của bị cáo nên giao trả xe mô tô cho bị cáo Chau R1 theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Các vấn đề khác:
Người thanh niên bán ma túy tên B, do chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
Bà Neàng Đa Q không biết việc Chau Sóc T cùng Chau R1 sử dụng ma túy trong nhà của bà Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm hình sự đối với bà Q là có căn cứ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Chau Sóc T 01 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 13-3-2024 (ngày mười ba, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Xử phạt: Chau Ra 01 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 13-3-2024 (ngày mười ba, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong (vụ số 352/KL-KTHS (MT-GT) ngày 19-3-2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Quyết T3, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0, 2414 gam và 01 ống nỏ thủy tinh.
Giao trả cho bị cáo Chau R1: 01 xe mô tô biển số 67F1-332.83, nhãn hiệu: Honda, số loại: Winner, màu xanh - trắng.
(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Chau Sóc T, Chau R1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Chau Sóc Thơm, Chau Ra - TTTPCMT
